ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KHỞI PHÁT CHUYỂN DẠ BẰNG SONDE FOLEY BÓNG ĐÔI CẢI TIẾN TẠI BỆNH VIỆN CHUYÊN KHOA SẢN NHI SÓC TRĂNG NĂM 2025

Lê Thị Giáng Châu1, , Lê Thị Anh Thư1, Trần Phương Ngọc Hạnh1, Dương Vĩnh Lộc1, Lý Phi Hưng1, Nguyễn Thị Kim Cương1
1 Bệnh viện chuyên khoa Sản Nhi tỉnh Sóc Trăng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Khởi phát chuyển dạ ngày càng tăng và có thể thực hiện bằng phương pháp cơ học hoặc hóa học. Sonde Foley bóng đôi cải tiến là lựa chọn cơ học chi phí thấp, có thể áp dụng tại cơ sở sản khoa. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả khởi phát chuyển dạ bằng sonde Foley bóng đôi cải tiến và phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả thành công. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp mô tả tiến cứu có phân tích trên 182 thai phụ tại Khoa Sanh, Bệnh viện chuyên khoa Sản Nhi Sóc Trăng từ tháng 5/2025 đến tháng 8/2025. Thành công được xác định khi chỉ số Bishop sau đặt sonde đạt ≥ 7 điểm trong thời gian lưu sonde tối đa 24 giờ; thất bại khi không đạt tiêu chuẩn này hoặc phải chấm dứt thai kỳ trước thời điểm đánh giá do chỉ định sản khoa. Kết quả: Tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công là 82,97% (KTC 95%: 76,73%87,79%); tỷ lệ sinh đường âm đạo là 61,54%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa gồm Bishop trước đặt sonde ≥ 3 điểm, chiều dài kênh cổ tử cung ≤ 30mm, tuổi thai 37-38 6/7 tuần và cân nặng sơ sinh ≤ 3500g. Kết luận: Sonde Foley bóng đôi cải tiến có tỷ lệ làm chín muồi cổ tử cung thành công cao, tỷ lệ biến chứng mẹ và sơ sinh thấp; cần diễn giải kết quả trong bối cảnh nghiên cứu một trung tâm, chọn mẫu thuận tiện và không có nhóm chứng.  

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Kuba K., Kirby M.A., Hughes F., Yellon S.M. Reassessing the Bishop score in clinical practice for induction of labor leading to vaginal delivery and for evaluation of cervix ripening. Placenta and Reproductive Medicine. 2023. 2, 8, doi: 10.54844/prm.2023.0353.
2. Ngô Minh Hưng, Hoàng Thị Diễm Tuyết, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang. Hiệu quả khởi phát chuyển dạ với thông Foley đôi cải tiến trên thai quá ngày dự sinh có chỉ định chấm dứt thai kỳ tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2019. 23(2), 121-126.
3. Đoàn Thị Phương Lam. Nghiên cứu tác dụng làm mềm, mở cổ tử cung của sonde Foley cải tiến trong gây chuyển dạ. Đại học Y Hà Nội. 2019. 116.
4. Nguyễn Hà Ngọc Uyên. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả của khởi phát chuyển dạ bằng thông Foley hai bóng cải tiến cho thai từ 40 đến 42 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ năm 2017-2018. Đại học Y Dược Cần Thơ. 2018. 82.
5. Rozenberg P. To the question of elective induction of labor at 39 weeks of gestation, the answer lies in the question. Gynecol Obstet Fertil Senol. 2018. 46(5), 481-488, doi: 10.1016/j.gofs.2018.03.009.
6. Grobman W.A., Rice M.M., Reddy U.M., Tita A.T.N., Silver R.M., et al. Labor induction versus expectant management in low-risk nulliparous women. New England Journal of Medicine. 2018. 379(6), 513-523, doi: 10.1056/NEJMoa1800566.
7. Gommers J.S.M., Diederen M., Wilkinson C., Turnbull D.A., Mol B.W.J. Risk of maternal, fetal and neonatal complications associated with the use of the transcervical balloon catheter in induction of labour: a systematic review. European Journal of Obstetrics & Gynecology and Reproductive Biology. 2017. 218, 73-84, doi: 10.1016/j.ejogrb.2017.09.014.
8. Anikwe C.C., Okorochukwu B.C., Uchendu E., Ikeoha C.C. The effect of ultrasound-measured preinduction cervical length on delivery outcome in a low-resource setting. Scientific World Journal. 2020. 2020, 8273154, doi: 10.1155/2020/8273154.
9. Boulvain M., Thornton J.G. Induction of labour at or near term for suspected fetal macrosomia. Cochrane Database of Systematic Reviews. 2023. 3(3), CD000938, doi: 10.1002/14651858.CD000938.pub3.