KHẢO SÁT NHU CẦU CÓ VÀ NUÔI CON HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Hiện nay, nhu cầu và quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới dần được đẩy mạnh và có nhiều cơ hội giải quyết. Bên cạnh nhu cầu kết hôn hợp pháp, công khai xu hướng tính dục, quyền bình đẳng,… nhu cầu có và nuôi con hợp pháp cũng vô cùng quan trọng và cấp thiết nhưng lại ít được quan tâm. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát nhu cầu có và nuôi con hợp pháp của người đồng tính, song tính và chuyển giới và một số yếu tố liên quan tại Thành phố Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 250 người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Thành phố Cần Thơ. Kết quả: 58,8% người đồng tính, song tính và chuyển giới có nhu cầu có con và nuôi con hợp pháp. Độ tuổi có liên quan đến nhu cầu có và nuôi con hợp pháp (p<0,05). Yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến nhu cầu có con và nuôi con hợp pháp lần lượt là bản thân (3,32±0,858), xã hội (3,31±0,871) và gia đình (2,89±0,987). Kết luận: Có và nuôi con hợp pháp là nhu cầu cấp thiết khi có đến 58,8% người đồng tính, song tính và chuyển giới bày tỏ mong muốn. Tuy nhiên, gia đình và xã hội vẫn còn tồn tại quá nhiều rào cản. Tìm hiểu sâu về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới nói chung và nhu cầu có và nuôi con nói riêng là vô cùng cần thiết để xây dựng nền tảng cho một xã hội bình đẳng và văn minh hơn.
Từ khóa
Nhu cầu có con và nuôi con hợp pháp, LGBT, Cần Thơ
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. L T Huy, P Q Phương. Có phải bởi vì tôi là LGBT?: Phân biệt đối xử dựa trên
3. xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam. Viện nghiên cứu Xã hội Kinh tế và Môi trường. 2015. 69-70, doi: 10.51298/vmj.v524i1.4727.
4. Phan TH, TT Huân, TV Khang và cộng sự. Thực trạng công khai xu hướng tính dục của người đồng , song tính và chuyển giới tại Thành phố Cần Thơ năm 2022. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023, 533, doi: 10.51298/vmj.v533i1.7727.
5. Pachankis J., Mahon C., Jackson S. et al. Sexual Orientation Concealment and Mental Health: A Conceptual and Meta-Analytic Review. Psychological Bulletin. 2020. 831–871. doi: 10.1037/bul0000271.
6. NH Quang, NT Lập và NT Dương. Quyền nuôi con nuôi của người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) tại Việt Nam - Thực trạng và Khuyến nghị. UNDP, USAID Việt Nam, Hà Nội. 2015. 48–52.
7. Nguyễn M Tuấn. Các điều kiện đảm bảo quyền nuôi con nuôi của cộng đồng LGBT tại Việt Nam: Những bất cập và giải pháp khắc phục. Trường Đại học Luật Hà Nội. 2022. 1-10.
8. NTH Trinh, B Thị Q Trang, N H K Linh. Kinh nghiệm của Cuba và Slovenia về hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới – Một số gợi mở cho Việt Nam. Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn. 2023.167–175.
9. M T Mai. Quyền tiếp cận công lý của cộng đồng đồng tính, song tính và chuyển giới ở việt nam và so sánh pháp luật một số quốc gia trên thế giới. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc. 2023. 147-152. doi: 10.54163/jrs.v12i3.435.
10. Nguyễn Đ Tuyến. Vấn đề nuôi con của người LGBT qua khảo sát ban đầu tại Hà Nội. Nghiên cứu Gia đình và Giới. 2022. 118-128.