BÁO CÁO CA LÂM SÀNG HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH MẠC TREO TRÀNG TRÊN PHỐI HỢP VỚI HỘI CHỨNG KẸP HẠT DẺ

Tô Anh Quân1, , Nguyễn Vũ Đằng1, Nguyễn Thị Ngọc Trâm1, Nguyễn Thị Lan Anh1, Nguyễn Thị Thảo Trang1
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

 Đặt vấn đề: Hội chứng động mạch mạc treo tràng trên (Superior Mesenteric Artery Syndrome) là một bệnh cảnh hiếm gặp do chèn ép cơ học đoạn D3 của tá tràng bởi động mạch mạc treo tràng trên và động mạch chủ bụng. Một số trường hợp có thể đồng thời gặp hiện tượng chèn ép tĩnh mạch thận trái giữa hai mạch máu trên - còn gọi là hội chứng kẹp hạt dẻ (Nutcracker Syndrome). Đây là nguyên nhân ít gặp gây tắc tá tràng mạn tính, thường dễ bỏ sót trong thực hành lâm sàng do triệu chứng không đặc hiệu. Giới thiệu ca bệnh: Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam 35 tuổi nhập viện với triệu chứng đau bụng vùng thượng vị và nôn ói sau ăn. Hình ảnh X quang bụng đứng, X quang dạ dày tá tràng và chụp cắt lớp vi tính bụng có thuốc cản quang ghi nhận giãn đoạn D1–D2 tá tràng và đoạn đầu hỗng tràng, kèm hẹp đoạn D3 tá tràng do chèn ép giữa động mạch mạc treo tràng trên và động mạch chủ bụng. Góc giữa động mạch mạc treo tràng trên và động mạch chủ bụng khoảng 19,5 º, khoảng cách 6 mm. Đồng thời, hình ảnh cắt lớp vi tính còn ghi nhận tĩnh mạch thận trái bị kẹp giữa hai mạch máu, gợi ý hội chứng kẹp hạt dẻ phối hợp. Bàn luận: Ca bệnh minh họa các đặc điểm chẩn đoán hình ảnh điển hình của hội chứng động mạch mạc treo tràng trên và sự phối hợp với hội chứng kẹp hạt dẻ. Chẩn đoán chủ yếu dựa trên các triệu chứng lâm sàng, bằng chứng tắc nghẽn trên hình ảnh chụp X quang ống tiêu hóa có uống thuốc cản quang và xác định nguyên nhân tắc nghẽn trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính bụng có tiêm thuốc cản quang. Kết luận: Đây là một trường hợp hội chứng động mạch mạc treo tràng trên điển hình, có phối hợp với hội chứng kẹp hạt dẻ, nhấn mạnh vai trò quan trọng của cắt lớp vi tính có tiêm thuốc cản quang trong phát hiện các hội chứng chèn ép do mạch máu ổ bụng hiếm gặp.  

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Oka A, Awoniyi M, Hasegawa N, et al. Superior mesenteric artery syndrome: Diagnosis and management. World J Clin Cases. 2023. 11(15), 3369-3384, doi:10.12998/wjcc.v11.i15.3369.
2. Sinagra E, Raimondo D, Albano D, et al. Superior Mesenteric Artery Syndrome: Clinical, Endoscopic, and Radiological Findings. Gastroenterol Res Pract. 2018. 1937416, doi:10.1155/2018/1937416.
3. Maghraby GG, Elgendy H, Marzouk A, et al. Vomiting as the storyteller in superior mesenteric artery syndrome. Egypt J Intern Med. 2025. 37(77), doi:10.1186/s43162-025-00467-0.
4. Wan S, Zhang L, Yang J, Gao X, Wang X. Superior Mesenteric Artery Syndrome Improved by Enteral Nutritional Therapy: A Retrospective Case-Series Study in a Single Institution. Ann Nutr Metab. 2020. 76(1), 37-43, doi:10.1159/000506620.
5. Wills MV, Barajas-Gamboa JS, Mocanu V, et al. Long-term outcomes of laparoscopic duodenojejunostomy for superior mesenteric artery syndrome. Surg Endosc. 2025. 39, 52355243, doi:10.1007/s00464-025-11774-6.
6. Kolber MK, Cui Z, Chen CK, Habibollahi P, Kalva SP. Nutcracker syndrome: diagnosis and therapy. Cardiovasc Diagn Ther 2021. 11(5), 1140-1149, doi: 10.21037/cdt-20-160.
7. Peric V, Ferenc T, Bratic T, et al. Controversies in treating nutcracker syndrome. CVIR Endovasc. 2025, 8(26), doi:10.1186/s42155-025-00544-z.
8. Gozzo C, Giambelluca D, Cannella R, et al. CT imaging findings of abdominopelvic vascular compression syndromes: What the radiologist needs to know. Insights Imaging. 2020. 11(48), doi:10.1186/s13244-020-00852-z.
9. Almunifi A, Al-Dhayan AZ, Alanazi M, Ababtain OA. Concurrent Encounter of Superior Mesenteric Artery Syndrome and Nutcracker Syndrome in a Young Female Patient: A Case Report and Literature Review. Cureus. 2024. 16(8), doi:10.7759/cureus.66002.
10. Dahir Alasow MO, Elmi AM, Haji AM, Jama SMA, Hirei HH, et al. Combined superior mesenteric artery syndrome and nutcracker syndrome in a young male patient presenting as atypical vomiting and rapid weight loss: A case report. Int Med Case Rep J. 2025. 18, 937-942, doi:10.2147/IMCRJ.S519808.