ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN GÃY XƯƠNG GÒ MÁ CUNG TIẾP BẰNG NẸP VÍT HỢP KIM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VĨNH LONG NĂM 2024

Nguyễn Bảo Thuyết1, , Trần Minh Triết2, Lâm Nhựt Tân3
1 Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long
2 Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ
3 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Gãy xương gò má cung tiếp thường gây ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ và có thể ảnh hưởng đến chức năng khác như nhìn, ăn nhai, phát âm… Phẫu thuật bằng nẹp vít hợp kim đã đánh dấu cột mốc quan trọng trong phẫu thuật hàm mặt, đem lại hiệu quả điều trị cao và đảm bảo thẩm mỹ. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân gãy xương gò má cung tiếp bằng nẹp vít hợp kim tại Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca lâm sàng với 13 bệnh nhân gãy xương gò má cung tiếp được điều trị bằng nẹp vít hợp kim, ghi nhận một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị sau 3 tháng. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 40,46±17,06, tỉ lệ nam:nữ là 12, nguyên nhân chính là do tai nạn giao thông (84,6%). Triệu chứng lâm sàng thường gặp là sưng nề mi mắt (100%), xuất huyết kết mạc (100%), mất liên tục xương (100%), mất cân đối 2 bên (84,6%). Hình ảnh X quang thường là mất liên tục bờ xương (100%) và mờ xoang (100%). Đánh giá kết quả sau 3 tháng đạt tốt (69,2%), khá (30,8%), không trường hợp nào kém. Kết luận: Điều trị bệnh nhân gãy xương gò má cung tiếp bằng nẹp vít hợp kim giúp phục hồi tốt giải phẫu và chức năng cũng như thẩm mỹ. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Võ Bá Minh Trí, Lê Minh Thuận, Trần Minh Triết, Trần Linh Nam, Trương Nhựt Khuê. Kết quả phẫu thuật điều trị gãy phức hợp gò má bằng nẹp vít nhỏ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2022-2024. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024. 543(1), 310-314, https://doi.org/10.51298/vmj.v543i1.11354.
2. Nguyễn Thị Minh Hiền, Trần Linh Nam. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, X-quang và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy phức hợp gò má bằng nẹp vít nhỏ tại Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất-Đồng Nai năm 2021-2022. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2023. 56, 52-58, https://doi.org/10.58490/ctump.2023i56.499.
3. Đậu Đức Thành, Nguyễn Hồng Hà. Đặc điểm lâm sàng, X-quang gãy phức hợp gò má cung tiếp tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2021-2022. Tạp chí Y học Việt Nam. 2022. 518(1), 1-4, https://doi.org/10.51298/vmj.v518i1.3303.
4. Huỳnh Văn Tánh, Trần Tấn Tài. Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị phẫu thuật gãy xương gò má-cung tiếp bằng nẹp vít nhỏ. Tạp chí Y Dược học-Trường Đại học Y Dược Huế. 2021. 11(6), 131-136, https://doi.org/10.34071/jmp.2021.6.17.
5. Thịnh Thái, Bùi Mai Anh, Vũ Trung Trực. Đánh giá kết quả điều trị gãy xương gò má bằng nẹp vít tự tiêu. Tạp chí Y học Việt Nam. 2021. 501(2), 30-33, https://doi.org/10.51298/vmj.v501i2.489.
6. Lee K.S., Do G.C., Shin J.B., Kim M.H., Kim J.S., et al. One-point versus two-point fixation in the management of zygoma complex fractures. Archives of Craniofacial Surgery. 2022. 23(4), 171-177, https://doi.org/10.7181/acfs.2022.00164.
7. Gawande M.J., Lambade P.N., Bande C., Gupta M.K., Mahajan M., et al. Two-point versus threepoint fixation in the management of zygomaticomaxillary complex fractures: A comparative study. Annals of Maxillofacial Surgery. 2021. 11(2), 229-235, https://doi.org/10.4103/ams.ams_75_20.
8. Phạm Hùng Cường. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật kết hợp xương gò má cung tiếp bằng đường mổ trong miệng tại Bệnh viện 19-8. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024. 536(1B), 30-32, https://doi.org/10.51298/vmj.v536i1B.8747.
9. Lê Thị Cẩm Hà, Đinh Diệu Hồng, Đặng Triệu Hùng, Phạm Hoàng Tuấn. Biến chứng sau phẫu thuật điều trị gãy phức hợp gò má. Tạp chí Y học Việt Nam. 2021. 505(1), 182-186, https://doi.org/10.51298/vmj.v505i1.1053.
10. Lê Nguyên Lâm, Lâm Quốc Tuấn. Đánh giá kết quả điều trị của bệnh nhân gãy hàm gò má bằng phương pháp nắn chỉnh xương gò má qua xoang hàm. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023. 523(1), 363-367, https://doi.org/10.51298/vmj.v523i1.4485.