MỐI LIÊN QUAN GIỮA MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ SIÊU ÂM VỚI QUYẾT ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ LỒNG RUỘT Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG CẦN THƠ

Nguyễn Trần Như Ngọc1, , Nguyễn Hữu Chí2, Nguyễn Vũ Đằng1, Nguyễn Thị Xuân Mai1, Lê Vũ Linh1
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2 Bệnh viện Nhi đồng 1

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Lồng ruột là nguyên nhân phổ biến gây tắc ruột ở trẻ em. Tháo lồng bằng hơi là phương pháp điều trị đầu tay, tuy tỉ lệ thành công cao nhưng vẫn có một số trường hợp thất bại phải chuyển phẫu thuật. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh siêu âm lồng ruột và khảo sát một số yếu tố dự đoán phương pháp can thiệp điều trị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang trên 94 bệnh nhi được chẩn đoán và điều trị lồng ruột tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ từ tháng 5/2023 đến tháng 1/2024. Kết quả: 94 bệnh nhi được đưa vào nghiên cứu, trong đó có 54 nam (57,4%), tỉ lệ nam/nữ là 1,35/1. Độ tuổi trung bình là 29,53±22 tháng. Tỉ lệ bệnh nhi vào viện trước 24 giờ 69,2%. Tỉ lệ các triệu chứng đau bụng hoặc khóc thét, tiêu máu, nôn, sờ chạm khối lồng lần lượt là 82,9%, 39,4%, 47,9%, 40,4%. Trên siêu âm, khối lồng có đường kính ngang trung bình 30,1±3,9mm, chiều dài trung bình 49,2±6,4mm. Tỉ lệ tháo lồng bằng hơi thành công 93,6%, tháo lồng bằng phẫu thuật 6,4%. Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tháo lồng bằng hơi hay phẫu thuật gồm tuổi, thời gian vào viện, tiêu máu, đường kính ngang và chiều dài của khối lồng, dịch trong khối lồng, dấu tắc ruột trên siêu âm. Kết luận: Khi bệnh nhi được chẩn đoán lồng ruột cần xem xét những yếu tố dự đoán tháo lồng thất bại, tiên lượng phẫu thuật nhằm tránh những biến chứng nghiêm trọng. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. George W., Holcomb J.P.M., Shawn D. St Peter, Keith W. Ashcraft. Holcomb and Ashcraft's Pediatric Surgery 7th edition. Elsevier. 2020. 621-622.
2. Li Y., Zhou Q., Liu C., Sun C., Sun H., Li X. Epidemiology, clinical characteristics, and treatment of children with acute intussusception: a case series. BMC Pediatr. 2023. 23(1), 143, doi:10.1186/s12887-023-03961-y.
3. Kumar B., Kumar M., Sinha A. K., Anand U., Kumar A. Intussusceptions in Children. Indian Journal of Surgery. 2020. 81(4), 379-382, doi:10.1007/s12262-019-01893-5.
4. Parkar S., Saxena A.K. Intussusception. Pediatric Surgery: General Pediatric Surgery, Tumors, Trauma and Transplantation. Springer Berlin Heidelberg. 2021. 185-195.
5. Kim P.H., Hwang J., Yoon H.M., Lee J.Y., Jung A.Y., Lee J.S. Predictors of failed enema reduction in children with intussusception: a systematic review and meta-analysis. Eur Radiol. 2021. 31(11), 8081-8097, doi: 10.1007/s00330-021-07935-5.
6. Hồ Hữu Thiện, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Thanh Xuân. Nghiên cứu các yếu tố xác định tháo lồng bằng phẫu thuật ở trẻ bị lồng ruột cấp. Tạp chí Y học lâm sàng. 2020. 59(4), 26-32, doi:10.38103/jcmhch.2020.59.4.
7. Huỳnh Nhất Hạnh Nhân. Giá trị của siêu âm trong chẩn đoán lồng ruột ở trẻ em và tiên lượng khả năng thành công của tháo lồng bằng hơi. Luận văn chuyên khoa cấp II. Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 2019.
8. Lâm Thuỳ Đoan và cộng sự. Các yếu tố dự đoán tháo lồng bằng hơi thất bại trong lồng ruột ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2023. (62), 76-83, doi: https://doi.org/10.58490/ctump.2023i62.560.
9. Hryhorczuk A.L., Strouse P.J. Validation of US as a first-line diagnostic test for assessment of pediatric ileocec intussusception. Pediatr Radiol. 2009. 39(10), 1075-1079, doi: 10.1007/s00247-009-1353-z.
10. Aoki Y., Iguchi A., Kitazawa K., Kobayashi H., Senda M., Honda A. Differences in clinical findings based on the duration of symptoms and age of children with ileocolic intussusception: a single-institution survey in rural Japan. Pediatric Emergency Care. 2021. 37(11), 537-542, doi: 10.1097/PEC.0000000000001750.