XÁC ĐỊNH ĐỘ LỆCH GIÁ TRỊ HUYẾT ÁP GIỮA PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP ĐỘNG MẠCH XÂM LẤN VỚI PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN TRÊN BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT VI PHẪU CẮT U NÃO TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG THÀNH PHỐ

Nguyễn Dương Phi1, , Nguyễn Vũ Trọng Nhân2, Lưu Nhật Hà2, Nguyễn Thị Thanh Tuyền3, Nguyễn Trần Tường Vi2, Lê Thiện Thông2
1 Bệnh viện Nhi đồng Thành Phố
2 Bệnh viện Nhi đồng Thành Phố
3 Bệnh viện Nhi đồng Thành Phố

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Huyết áp động mạch không xâm lấn (HAĐMKXL) là một thiết bị đo lường chỉ số huyết áp phổ biến, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về độ chính xác của thiết bị này so với huyết áp động mạch xâm lấn (HAĐMXL). Mục tiêu nghiên cứu: Xác định độ lệch giữa hai phương pháp đo huyết áp động mạch: xâm lấn và không xâm lấn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu ghi nhận HAĐMKXL và HAĐMXL trên 22 bệnh nhân trong suốt quá trình phẫu thuật vi phẫu cắt u não. Từ đó, tính được độ lệch (Mean of bias), độ lệch chuẩn (SD), giới hạn tương đồng (LoA) giữa 2 phương pháp. Đồng thời, chúng tôi tìm mối liên quan giữa độ lệch giá trị HA với các giai đoạn phẫu thuật, tăng huyết áp, hạ huyết áp, và truyền thuốc vận mạch. Kết quả: Chúng tôi ghi nhận 550 cặp giá trị HA ở 22 bệnh nhân. Độ lệch giá trị HA lần lượt: SBP -2,0 mmHg (SD 9,32 mmHg, LoA -20,3 đến 16,3 mmHg), DBP -4,3 mmHg (SD 10,52 mmHg, LoA -24,9 đến 16,3 mmHg), MBP -3,5 mmHg (SD 9,15 mmHg, LoA -21,4 mmHg đến 14,4 mmHg). Giá trị HAĐMKXL nhỏ hơn giá trị HAĐMXL khi bệnh nhân tăng huyết áp và lớn hơn khi bệnh nhân hạ huyết áp. Việc sử dụng thuốc vận mạch làm giảm độ lệch giá trị giữa 2 phương pháp, trong khi các giai đoạn phẫu thuật thì không ghi nhận ảnh hưởng. Kết luận: Độ lệch ở cả ba chỉ số đều thỏa tiêu chuẩn của Hiệp hội thiết bị y khoa Hoa Kỳ (AAMI) cho thấy triển vọng sử dụng giá trị HAĐMKXL thay thế cho HAĐMXL trong các trường hợp: theo dõi bệnh nhân giai đoạn ổn định, bệnh nhân đang chờ đặt ĐMXL. Tuy nhiên, độ lệch chuẩn (SD) ở cả ba chỉ số đều không thỏa tiêu chuẩn AAMI, cho thấy tính không ổn định về giá trị của HAĐMKXL nhất là ở giai đoạn cấp cứu, các bệnh nhân có tình trạng sốc, sử dụng vận mạch.  

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. J. C de Graaff, W. Pasma, S.V. Buuren, J.J. Duijghuisen, O. O Nafiu et al. Reference values for noninvasive blood pressure in children during anesthesia: a multicentered retrospective observational cohort study. Anesthesiology. 2016. 125(5), 904-913, https://doi.org/10.1097/ALN.0000000000001310.
2. J. Karlsson, P. A. Lonnqvist. Blood pressure and flow in pediatric anesthesia: An educational review. Pediatric Anesthesia. 2022. 32(1), 10-16, https://doi.org/10.1111/pan.14328.
3. C. Illies, M. Bauer, P. Berg, J. Rosenberg, J. hedderich, et al. Investigation of the agreement of a continuous noninvasive arterial pressure device in comparison with invasive radial artery measurement. British Journal of Anaesthesia. 2012. 108(2), 202-210, https://doi.org/10.1093/bja/aer394.
4. S-H. Kim, M. Lilot, K. S. Sidhu, J. Rinehart, Z. Yu, et al. Accuracy and Precision of Continuous Noninvasive Arterial Pressure Monitoring Compared with Invasive Arterial Pressure: A Systematic Review and Meta-analysis. Anesthesiology. 2014. 120(5), 1080-1097, https://doi.org/10.1097/ALN.0000000000000226.
5. T. Holt, D. Withington, E. Mitchell. Which pressure to believe? A comparison of direct arterial with indirect blood pressure measurement techniques in the pediatric intensive care unit. Pediatric Critical Care Medicine. 2011. 12(6), e391-e394, https://doi.org/10.1097/PCC.0b013e3182230f43.
6. D. B. Wax, H-M. Lin, A. Leibowitz. Invasive and Concomitant Noninvasive Intraoperative Blood Pressure Monitoring: Observed Differences in Measurements and Associated Therapeutic Interventions. Anesthesiology. 2011. 115(5), 973-978, https://doi.org/10.1097/ALN.0b013e3182330286.
7. Instrumentation, Association for the Advancement of Medical. Non-invasive Sphygmomanometers, Clinical Validation of Automated Measurement Type, Vol. 2. 2009.
https://www.iso.org/standard/50814.html.