KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI Ở NGƯỜI LỚN BẰNG PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG TOÀN PHẦN KHÔNG XI MĂNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ

Huỳnh Văn Thế 1, , Nguyễn Văn Lâm 1
1 Trường Đại học Y dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Gãy cổ xương đùi là một chấn thương thường gặp. Phẫu thuật thay khớp háng giúp bệnh nhân sớm sinh hoạt, vận động độc lập được, giảm nguy cơ phải phẫu thuật lại. Tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, phẫu thuật thay khớp háng toàn phần điều trị cho bệnh nhân gãy cổ xương đùi đã được áp dụng từ lâu nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả của phương pháp này. Mục tiêu: (1). Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X quang của bệnh nhân gãy cổ xương đùi được phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi măng. (2). Đánh giá kết quả điều trị gãy cổ xương đùi bằng phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi măng tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 8 năm 2020 trên 64 bệnh nhân gãy cổ xương đùi được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi măng. Chúng tôi ghi nhận các đặc điểm chung về bệnh nhân, đặc điểm lâm sàng, hình ảnh XQuang. Đánh giá kết quả phục hồi chức năng khớp háng bằng thang điểm Harris. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 59,31 ± 9,44, tỉ lệ nữ/nam là 1,46. Nguyên nhân chấn thương do tai nạn sinh hoạt chiếm 71,9%. Phân loại Garden III và IV chiếm đa số. Tất cả bệnh nhân lành vết mổ kỳ đầu, có 2 bệnh nhân chảy máu vết mổ, 2 trường hợp trật khớp được nắn lại thành công. Kết quả phục hồi chức năng khớp háng tốt và rất tốt sau 6 tháng là 96,8%. Kết luận: Phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi măng mang lại kết quả điều trị tốt cho các bệnh nhân gãy cổ xương đùi với tỉ lệ thành công đạt 96,8%, có tỉ lệ biến chứng thấp, hạn chế tỉ lệ phải phẫu thuật lại.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Hồ Huy Cường, Đỗ Phước Hùng, Hoàng Đức Thái (2018), Ảnh hưởng của so le chân lên chức năng và chất lượng sống sau thay khớp háng toàn phần, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản tập 22, số 1/2018, tr. 269-275.
2. Trần Trung Dũng (2014), Nhận xét kết quả phẫu thuật thay khớp háng toàn bộ với đường mổ nhỏ điều trị gãy cổ xương đùi do chấn thương, Y học thực hành (907), số 3/2014, tr. 9-12.
3. Vương Tuấn Khanh (2015), Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng toàn phần tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ, Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên.
4. Trần Nguyễn Phương (2009), Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi măng tại Bệnh viện Bạch Mai, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội.
5. Trần Quang Sơn, Phạm Văn Lình (2018), Kết quả điều trị gãy cổ xương đùi ở người cao tuổi bằng phẫu thuật thay khớp háng bán phần không xi măng tại Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ, Tạp chí y dược học Cần Thơ, số 15/2018, tr. 35-41.
6. Nguyễn Thành Tấn, Nguyễn Tâm Từ, Trần Quang Sơn (2017), Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng tại Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ, Tạp chí y dược học Cần Thơ, số 7/2017, tr. 42-49.
7. Anthony V. Florschutz, Joshua R. Langford, George J. Haidukewych, Kenneth J. Koval, (2015), Femoral Neck Fractures: Current Management, Journal of Orthopaedic Trauma, Vol. 29, No. 3, pp. 121-129.
8. Gehlbach, S. H., Avrunin, J. S., and Puleo, E. (2007), Trends in hospital care for hip fractures, Osteoporos Int. 18(5), pp. 585-591.
9. Mani KKC, Raj DRC, Acharya P, Pangeni BR (2015), Total Hip Arthroplasty for Displaced Femoral Neck Fractures in Elderly Patients, Orthopedic & Muscular System, vol 5 (204).
10. Mavcic B. and Antolic V. (2020), Cementless femoral stem fixation and leg-length discrepancy after total hip arthroplasty in different proximal femoral morphological types, https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/32572540.
11. Stephen Thong Soon Tan (2017), Clinical outcomes and hospital length of stay in 2,756 elderly patients with hip fractures a comparison of surgical and non-surgical management, Singapore medical journal, 58(5), pp. 253-257.