NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN BỊ RẮN LỤC XANH ĐUÔI ĐỎ CẮN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 121 NĂM 2020-2021

Nguyễn Minh Thiện1, , Trần Ngọc Dung2
1 Bệnh viện Quân Y 121
2 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Những năm gần đây khu vực đồng bằng sông Cửu Long xảy ra nhiều trường hợp người dân bị rắn lục xanh đuôi đỏ cắn. Đây là một cấp cứu nội khoa với bệnh cảnh lâm sàng từ tổn thương tại vết cắn như chảy máu, hoại tử đến nghiêm trọng như xuất huyết đa cơ quan, đe dọa tính mạng. Yêu cầu cấp thiết là phải chẩn đoán xác định rắn cắn sớm để có thái độ xử trí đúng và kịp thời, mang lại hiệu quả điều trị tốt cho bệnh nhân. Mục tiêu nghiên cứu: 1) Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân bị rắn lục xanh đuôi đỏ cắn. 2) Đánh giá sơ cứu ban đầu và kết quả điều trị bệnh nhân bị rắn lục xanh đuôi đỏ cắn tại Bệnh viện quân y 121 năm 2020-2021. Đối trượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 110 bệnh nhân được chẩn đoán rắn lục xanh đuôi đỏ cắn và điều trị tại bệnh viện Quân Y 121 từ tháng 08/2020 đến tháng 02/2021. Kết quả: Bệnh nhân đa số là nam giới, chiếm 76,4%, chủ yếu trong độ tuổi lao động (55,5%). Triệu chứng đau, sưng vết cắn chiếm 100%. Bệnh nhân có rối loạn đông cầm máu chiếm 37,3%. Tỷ lệ bệnh nhân được sơ cứu đúng trước nhập viện là 12,7%. 100% bệnh nhân hồi phục hoàn toàn sau điều trị. Kết luận: Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng điển hình của bệnh nhân bị rắn lục xanh đuôi đỏ cắn là sưng, đau vết cắn và rối loạn đông cầm máu. Tỷ lệ bệnh nhân được sơ cứu ban đầu đúng còn thấp. Điều trị đặc hiệu bằng huyết thanh kháng nọc rắn đem lại kết quả điều trị tốt cho bệnh nhân.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Y tế (2014), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị rắn lục xanh đuôi đỏ cắn, Bộ Y tế, tr.1-5.
2. Âu Dương Duy (2018), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân bị rắn lục cắn tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ 2017-2018, Đại học Y Dược Cần Thơ.
3. Nguyễn Tấn Hiệp và cộng sự (2014), Xác định độc lực của rắn lục đuôi đỏ và tác động gây loét trên chuột, Y học thành phố Hồ Chí Minh, Tập 18(2), tr.43-49.
4. Nguyễn Trung Nguyên (2019), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, nồng độ độc trong máu và giá trị của xét nghiệm nhanh trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân bị rắn hổ mang cắn, Viện nghiên cứu khoa học Y Dược lâm sàng 108.
5. Mã Tú Thanh, Phạm Văn Quang (2017), “38 đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, ở bệnh nhi bị rắn lục tre cắn tại bệnh viện Nhi đồng 1”, Y học thành phố Hồ Chí Minh, 21(4), tr.252-259.
6. Mai Đức Thảo, Nguyễn Thị Dụ (2012), Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân bị rắn lục cắn tại trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai, Y học thực hành, 816(4), tr.22-25.
7. J.M Gutiérrez (2017), Snakebite envenoming, Nature Reviews Disease Primers, 3(17063), pp.1-20.
8. K.S Kumar (2018), Clinical and epidemiologic profile and predictors of outcome of poisonous snake bites – an analysis of 1,500 cases from a tertiary care center in Malabar, North Kerala, India, International Journal of General Medicine, 2018(11), pp.209-216.
9. R. Othong (2020), A study regarding follow-ups after green pit viper bites treated according to the practice guideline by the Ministry of Public Health of Thailand,
Clinical Toxicology, 58(9), pp.893-899.
10. S. Thumtecho et al. (2020), “Hematotoxic Manifestations and Management of Green Pit Viper Bites in Thailand”, Therapeutics and Clinical Risk Management, 2020(16), pp.695-704.
11. WHO (2016), Guidelines for The Management of Snake-bites, Regional Office for SouthEast Asia, India.