Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump
<p class="p0">04/10/2015 Ministry of Information and Communications allowed Can Tho journal of medicine and pharmacy to operate (102 /GP-BTTTT)</p> <p class="p0"><strong>07/16/2015 Can Tho journal of medicine and pharmacy is internationally recognized:ISSN 2354-1210</strong></p> <p class="p0"><strong>In 2016, The journal has been included in the list of medical science journals by The State Council for professorship which is awarded a work score of 0-0.5 points for a published article.</strong></p> <p class="p0">Can Tho Journal of Medicine and Pharmacy welcome original works that haven’t been submitted or published in other medical journals. Posts must contain content related to one of the journal’s categories.</p>Cantho Journal of Medicine and Pharmacyvi-VNTạp chí Y Dược học Cần Thơ2354-1210TÁC ĐỘNG CỦA CAN THIỆP GIÁO DỤC ĐẾN KIẾN THỨC VÀ SỰ TUÂN THỦ KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN NĂM 2024: MỘT NGHIÊN CỨU CAN THIỆP
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4469
Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn bệnh viện đặc biệt nghiêm trọng tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Tại Việt Nam, tỉ lệ điều dưỡng có kiến thức kiểm soát nhiễm khuẩn đầy đủ chỉ đạt 52,4-58,7%, hiện có ít nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các gói can thiệp giáo dục tích hợp giám sát hỗ trợ trong cải thiện tuân thủ thực hành.Mục tiêu nghiên cứu: 1. Xác định tỉ lệ kiến thức đầy đủ và sự tuân thủ các quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn thiết yếu ban đầu của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên năm 2024; 2. Đánh giá hiệu quả của một chương trình can thiệp giáo dục có cấu trúc trong việc cải thiện kiến thức và tuân thủ kiểm soát nhiễm khuẩn của điều dưỡng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp trước-sau được thực hiện trên 312 điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2024. Kiến thức và sự tuân thủ bốn quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn (rửa tay thường quy, sát khuẩn tay nhanh, tiêm tĩnh mạch, và thay băng vết thương) được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu trúc và phương pháp quan sát kín. Can thiệp đào tạo thực hành, có giám sát hỗ trợ, đánh giá sau can thiệp một tháng. Kết quả: Trước can thiệp, 87,5% điều dưỡng có kiến thức đạt, 52,6% tuân thủ tất cả các quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn. Sau can thiệp, tỉ lệ có kiến thức đạt là 93,6% (tăng 6,1%, p=0,009), tỉ lệ tuân thủ thực hành đạt 81,4% (tăng 28,8%; p<0,001). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy hiệu quả giáo dục không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nhân khẩu học. Kết luận: Can thiệp giáo dục thực hành, có giám sát hiệu quả trong việc cải thiện cả kiến thức và tuân thủ lâm sàng nên tích hợp các chương trình đào tạo thực hành định kỳ.Nguyễn Thị Khánh LyPhạm Văn Lình
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-25941810.58490/ctjump.2026i94.4469NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH GÂY SUY GIẢM SINH SẢN BẰNG PARACETAMOL LIỀU CAO TRƯỜNG DIỄN TRÊN CHUỘT NHẮT TRẮNG ĐỰC
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4090
Đặt vấn đề: Sử dụng paracetamol kéo dài có thể gây rối loạn nội tiết và ảnh hưởng đến chức năng sinh sản ở nam giới. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá đặc điểm các thông số tinh dịch đồ trên chuột được can thiệp paracetamol liều cao trường diễn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thực nghiệm trên 48 chuột Swiss albino đực, 5-6 tuần, 22±2 g, chia ngẫu nhiên thành 4 lô: chứng sinh lý (lô 1), chứng dương (lô 2) uống natri valproat 750 mg/kg/ngày, lô thử (lô 3 và 4) tiêm tĩnh mạch paracetamol liều 300 hoặc 400 mg/kg/ngày. Đánh giá tinh dịch đồ sau 10 hoặc 15 tuần can thiệp. Kết quả: Sau 15 tuần, natri valproat (chứng dương) gây ra sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng và chất lượng tinh trùng so với nhóm chứng sinh lý khi cho uống liên tục mỗi ngày trong 5 tuần đầu với nồng độ tinh trùng thấp (1,61±1,32 triệu/mL), tỉ lệ di động thấp (4,58±2,13%) và dị dạng cao (40,34±3,49%) (p<0,001). Liều paracetamol 300 mg/kg chưa dẫn đến sự thay đổi tinh dịch đồ so với nhóm chứng sinh lý sau 10 tuần, nhưng đã có bất thường đáng kể như giảm nồng độ tinh trùng (51,64±1,65 triệu/mL) và tỉ lệ di động (82,06±2,02%), tăng tỉ lệ bất động (17,94±2,02%) và tỉ lệ dị dạng (19,01±2,54%) sau 15 tuần (p<0,001). Liều paracetamol 400 mg/kg đã dẫn đến sự suy giảm về số lượng và tỉ lệ di động của tinh trùng sau 10 tuần và ảnh hưởng này thể hiện đáng kể hơn lên nồng độ tinh trùng (38,41±3,03 triệu/mL), tỉ lệ di động (39,41±5,28%), tỉ lệ bất động (60,59±5,28%) và tỉ lệ dị dạng (30,31±4,60%) sau 15 tuần (p<0,001). Kết luận: Liều paracetamol 400 mg/kg trường diễn đã gây suy giảm khả năng sinh sản trên chuột nhắt trắng đực sau 15 tuần.Đặng Phan Ngọc HiềnĐặng Phan Ngọc HậuNguyễn Hoàng SơnLê Hồng PhongPhan Thị Phương LanNguyễn Hoàng TínPhùng Minh Thư
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-259491510.58490/ctjump.2026i94.4090ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TRÁM BÍT ỐNG TỦY RĂNG VĨNH VIỄN MỘT CHÂN BẰNG PHƯƠNG PHÁP LÈN NHIỆT BIẾN ĐỔI TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NĂM 2024 - 2026
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4248
Đặt vấn đề: Việc trám bít đóng vai trò then chốt trong điều trị nội nha, nhưng các phương pháp hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế. Lèn nhiệt biến đổi là phương pháp trám bít tiên tiến, được sử dụng rộng rãi trong thực hành nội nha hiện đại nhưng các nghiên cứu về phương pháp này rất ít. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả trám bít ống tủy răng vĩnh viễn một chân trám bít bằng phương pháp lèn nhiệt biến đổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng tiến cứu một nhánh, không đối chứng trên 44 răng một chân có bệnh lý tủy. Các răng được sửa soạn và canxi hydroxide được sử dụng làm thuốc băng trong 10- 14 ngày. Sau đó các răng được trám bít bằng phương pháp lèn nhiệt biến đổi. Kết quả được đánh giá trên phim chụp cắt lớp vi tính chùm tia hình nón sau điều trị 1 tuần và 6 tháng. Kết quả: Trong nghiên cứu này, nhóm răng cửa với một ống tủy chiếm đa số (59,1%). Các răng có hình thái ống tủy loại I rất phổ biến (84,1%). Kết quả trám bít cho thấy 39/44 răng được trám bít cách chóp 0-2mm, 38/44 răng có chất trám bít đồng nhất, không có ca nào trám bít thiếu thân răng và xuất hiện biến chứng sau điều trị. Độ trám đầy tương đối và các khoảng trống thấy được trên cắt lớp vi tính chùm tia hình nón 97,60±0,90% diện tích ống tủy. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy hiệu quả trám bít ống tủy cao, mặc dù vẫn có trường hợp bị trám quá chóp nhưng chưa ghi nhận biến chứng hay thất bại sau 6 tháng theo dõi. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác và toàn diện hơn về phương pháp này, cần có thêm các nghiên cứu dài hạn với cỡ mẫu lớn hơn, đặc biệt là trên các răng có hình thái ống tủy phức tạp.Lê Quốc TrungNguyễn Quang TâmTrần Hà Phương ThảoBiện Thị Bích NgânĐỗ Diệp Gia HuấnNguyễn Lệ Uyên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-2594162310.58490/ctjump.2026i94.4248XÂY DỰNG VÀ THẨM ĐỊNH QUY TRÌNH ĐỊNH LƯỢNG TẠP LIÊN QUAN CỦA CANDESARTAN TRONG VIÊN NÉN CHỨA CANDESARTAN VÀ ROSUVASTATIN
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4400
Đặt vấn đề: Hiện nay đã có một số cơ sở nghiên cứu viên nén chứa hai thành phần rosuvastatin và candesartan. Tuy nhiên, các dược điển tham chiếu cũng như tạp chí chuyên ngành, chưa có tài liệu nào công bố quy trình xác định tạp chất liên quan trong chế phẩm phối hợp hai thành phần trên. Nghiên cứu nhằm xây dựng và thẩm định quy trình định lượng các tạp liên quan của candesartan trong viên nén chứa hai thành phần rosuvastatin và candesartan, góp phần xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm cho thành phẩm chứa hai hoạt chất này. Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng và thẩm định quy trình định lượng các tạp liên quan của candesartan trong viên nén chứa hai thành phần candesartan (dưới dạng candesartan cilexetil) và rosuvastatin (dưới dạng rosuvastatin calcium). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tạp chất liên quan A, B, D, F, G (USP) của candesartan. Xây dựng quy trình định lượng đồng thời 5 tạp chất của candesartan trong viên nén chứa hai thành phần candesartan và rosuvastatin bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao với đầu dò dải diod quang theo hướng dẫn của ICH Q2(R2). Kết quả: Điều kiện phân tích: Hệ thống HPLC 2695e Waters, đầu dò PDA, phần mềm xử lý Empower 2; cột sắc ký C18 Xbridge (250×4,6 mm, 5 μm, Waters); pha động acetonitril – acid phosphoric 0,05% theo chương trình gradient; tốc độ dòng 1 ml/phút; thể tích tiêm mẫu 10 μL; bước sóng phát hiện 254 nm. Quy trình phân tích đạt yêu cầu về tính tương thích hệ thống, độ đặc hiệu, độ tuyến tính, độ đúng và độ chính xác. Kết luận: Đã xây dựng và thẩm định quy trình định lượng 5 tạp chất liên quan của candesartan trong viên nén chứa hai thành phần candesartan và rosuvastain theo hướng dẫn của ICH Q2(R2).Lê Văn Hoài TrânHuỳnh Hồng PhúcThS Lê Thị Thương ThươngPGS.TS Phan Thanh Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-2594243010.58490/ctjump.2026i94.4400NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÁI SỐC, THỞ MÁY Ở TRẺ EM SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE NẶNG TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG CẦN THƠ GIAI ĐOẠN 2024 - 2025
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4344
Đặt vấn đề: Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm có thể diễn tiến nhanh đến mức độ nặng ở trẻ em, đòi hỏi nhận diện sớm và xử trí kịp thời. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan đến tái sốc, thở máy ở trẻ em sốt xuất huyết Dengue nặng tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ giai đoạn 2024-2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 52 trẻ được chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue nặng nhập viện tạiBệnh viện Nhi đồng Cần Thơ giai đoạn 2024-2025. Kết quả: Nhóm tuổi >10 chiếm tỉ lệ cao nhất (59,6%), nữ và nam mắc bệnh tương đương, trẻ sống ở nông thôn chiếm 69,2% và thừa cân–béo phì 28,8%. Ở nhóm tái sốc, tiểu ít (26,3%, p=0,04) có ý nghĩa so với nhóm không tái sốc, trong khi tràn dịch đa màng (84,2%, p=0,729) chiếm tỉ lệ cao hơn nhưng không có ý nghĩa thống kê. Ở nhóm sốt xuất huyết nặng cần thở máy, tràn dịch các màng (100%; p=1), tái sốc (100%; p=0,044) và tiểu ít (33,3%; p=0,037) xuất hiện với tỉ lệ cao hơn rõ rệt. Hct tăng có ý nghĩa (p=0,031), trong khi tiểu cầu (p=0,589) và bạch cầu (p=0,415) không khác biệt giữa hai nhóm. Kết luận: Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng có giá trị gợi ý nguy cơ tái sốc và thở máy, giúp ích cho việc phân tầng và xử trí sớm ở trẻ sốt xuất huyết Dengue nặng.Nguyễn Đỗ Khánh HuyềnTrần Trúc NhưTrần Thị Kim NgânHoàng Ngọc LinhNguyễn Thị Thanh NhànNgô Chí Quang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-2594313710.58490/ctjump.2026i94.4344TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỘNG LỰC HỌC TẬP VÀ SỰ TỰ TIN TRONG THỰC HÀNH KỸ NĂNG LÂM SÀNG Ở SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4373
Đặt vấn đề: Động lực học tập và sự tự tin trong thực hành kỹ năng lâm sàng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đào tạo và năng lực nghề nghiệp của sinh viên điều dưỡng. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định thực trạng và mối tương quan giữa động lực học tập và mức độ tự tin trong thực hành kỹ năng lâm sàng ở sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 139 sinh viên điều dưỡng năm thứ 2-4 đã hoàn thành ít nhất một học phần thực hành lâm sàng. Kết quả: Điểm trung bình động lực học tập của sinh viên là 5,56±0,65/7 điểm, trong đó 67,6% đạt mức tốt. Điểm trung bình tự tin là 7,46±1,1/10, với 70,5% sinh viên ở mức tự tin trung bình và 29,5% ở mức cao. Có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố động lực nội tại (hướng đến sự hiểu biết, cảm giác thành tựu, trải nghiệm kích thích và thể hiện giá trị bản thân) với sự tự tin trong thực hành kỹ năng lâm sàng (p<0,05). Ngược lại, không có mối liên hệ giữa các dạng động lực khác (áp lực, trách phạt, phần thưởng, không có động lực, động lực chung) với sự tự tin. Kết luận: Sinh viên điều dưỡng có mức động lực học tập và sự tự tin ở từ trung bình đến cao. Việc tăng cường động lực học tập nội tại có thể góp phần nâng cao sự tự tin và hiệu quả thực hành kỹ năng lâm sàng.Nguyễn Thị Kim TuyếnNguyễn Phong DinhVõ Thị Mỹ TuyênTrịnh Xuân ThủyNguyễn Việt Phương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-2594384410.58490/ctjump.2026i94.4373KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI TÁI TẠO DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC SỬ DỤNG MẢNH GHÉP GÂN HAMSTRING TỰ THÂN VỚI KỸ THUẬT TẤT CẢ BÊN TRONG TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 121
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4389
Đặt vấn đề: Trong những năm gần đây, xu hướng bảo tồn tối đa xương thông qua kỹ thuật “Tất cả bên trong” đang dần thay thế các phương pháp truyền thống tại Việt Nam, bước đầu mang lại hiệu quả tốt. Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị tái tạo dây chằng chéo trước sử dụng mảnh ghép gân Hamstring tự thân với kỹ thuật tất cả bên trong qua nội soi tại Bệnh viện Quân y 121. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu mô tả cắt ngang trên 54 bệnh nhân (từ 01/2024 - 12/2024) bị đứt dây chằng chéo trước được phẫu thuật tái tạo bằng gân Hamstring tự thân với kỹ thuật tất cả bên trong tại khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Quân y 121. Kết quả: Độ tuổi trung bình 38,43 ± 11,13 tuổi. Đứt dây chằng chéo trước đơn thuần 41 bệnh nhân, rách sụn chêm kèm theo 13 bệnh nhân. Thời gian theo dõi trung bình 9,91 tháng (3 - 15 tháng). Sau phẫu thuật ghi nhận kết quả phục hồi chức năng theo thang điểm Lysholm: rất tốt và tốt 94,44% (51/54), trung bình 5,56% (3/54). Kết luận: Đi cùng xu hướng bảo tồn tối đa xương và can thiệp tối thiểu, phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo trước bằng gân Hamstring tự thân với kỹ thuật tất cả bên trong có ưu điểm mảnh ghép có đường kính lớn, cố định vững chắc, ít biến chứng là phương pháp an toàn, hiệu quả cao.Trần Trọng NhânNguyễn Trường NguyênLê Văn ĐăngVõ Vũ Lam
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-2594455110.58490/ctjump.2026i94.4389THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TỰ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI PHƯỜNG BẠC LIÊU, TỈNH CÀ MAU NĂM 2025
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4442
Đặt vấn đề: Già hóa dân số làm gia tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Tại phường Bạc Liêu, người cao tuổi chiếm tỉ lệ đáng kể trong dân số nhưng hoạt động quản lý sức khỏe và hỗ trợ tự chăm sóc tại cộng đồng còn hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tại phường Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang từ tháng 10/2025 – 01/2026 tại phường Bạc Liêu, khảo sát 385 người ≥ 60 tuổi được chọn bằng phương pháp mẫu cụm. Kết quả: Có 76,9% người cao tuổi có kỹ năng tự chăm sóc tốt. Đa số người cao tuổi có khả năng độc lập trong sinh hoạt hàng ngày (>81%). Tuy nhiên, chỉ 27,5% tự quản lý thuốc và 41,8% tự theo dõi sức khỏe tại nhà.Trình độ học vấn và khám sức khỏe định kỳ liên quan có ý nghĩa thống kê với CSSK chung (p<0,001). Kết luận: Người cao tuổi còn gặp khó khăn khi phải thực hiện các kỹ năng tự quản trị sức khỏe, đòi hỏi kiến thức và sự hỗ trợ chuyên môn, đặc biệt với nhóm có học vấn thấp.Lý Hải YếnPhạm Thị Nhã TrúcNguyễn Ngọc Thể
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-2594526010.58490/ctjump.2026i94.4442NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN, HÌNH THÁI, VI HỌC VÀ KHẢO SÁT SƠ BỘ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA HỒ ĐẰNG RỄ MÀNH (Cissus verticillata (L.) Nicolson & C.E. Jarvis, Vitaceae)
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4416
Đặt vấn đề: Cissus verticillata (L.) Nicolson & C.E. Jarvis, Vitaceae (Hồ đằng rễ mành), được nghiên cứu nhiều trên thế giới về đặc điểm thực vật học, thành phần và tác dụng dược lý, thế nhưng tại Việt Nam còn ít các nghiên cứu được công bố về loài này. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm di truyền, hình thái, vi học và sơ bộ thành phần hóa học của loài Hồ đằng rễ mành. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồ đằng rễ mành được thu hái tại Hồ Chí Minh. Đặc điểm di truyền được đánh giá bằng cách ly trích, khuếch đại DNA, giải trình tự và so sánh ngân hàng gen NCBI. Phương pháp nghiên cứu thực vật học bằng cách ghi nhận hình ảnh mẫu lá, hoa, quả dưới kính hiển vi soi nổi; rễ phụ, thân, lá được quan sát vi phẫu và bột dược liệu dưới kính hiển vi. Phân tích sơ bộ thành phần hóa học rễ phụ, thân, lá được tiến hành theo phương pháp của Ciulei. Kết quả: Phân tích đặc điểm di truyền xác định loài Hồ đằng rễ mành được thu hái là Cissus verticillata (L.) Nicolson & C.E. Jarvis, Vitaceae. Nghiên cứu ghi nhận các đặc điểm hình thái, vi phẫu, cấu tử trong bột dược liệu, đặc biệt có nhiều tinh thể canxi oxalat hình cầu gai và hình kim. Phân tích sơ bộ thành phần hóa học cho thấy rễ phụ chứa đa dạng hợp chất hơn so với thân và lá, bao gồm flavonoid, tannin, coumarin, saponin, triterpenoid, đường và acid hữu cơ. Kết luận: Nghiên cứu đã phân tích đặc điểm di truyền, hình thái, vi học, và sơ bộ thành phần hóa học, cung cấp dữ liệu cho định danh và phát triển các nghiên cứu về thành phần và tác dụng của Hồ đằng rễ mành tại Việt Nam.MPharm Trần Thạch ThảoNguyễn Thị Ngọc Thảo
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-2594616810.58490/ctjump.2026i94.4416ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU CỦA PHƯƠNG PHÁP NỘI SOI BÓC NHÂN TUYẾN TIỀN LIỆT BẰNG LASER HOLMIUM TRONG ĐIỀU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT TẠI BỆNH VIỆN 30-4
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4550
Đặt vấn đề: Phẫu thuật nội soi bóc nhân tuyến tiền liệt bằng laser Holmium (HoLEP) được xem là tiêu chuẩn vàng mới điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (BPH) nhờ tính triệt để, áp dụng cho mọi kích thước tuyến và hiệu quả lâu dài. Tại Bệnh viện 30-4, kỹ thuật này mới triển khai nên cần đánh giá tính an toàn và hiệu quả ban đầu. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả bước đầu và tỉ lệ biến chứng của phương pháp nội soi bóc nhân tuyến tiền liệt bằng laser Holmium trong điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt tại Bệnh viện 30-4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca trên 30 bệnh nhân BPH được phẫu thuật HoLEP tại khoa Ngoại Tổng hợp, Bệnh viện 30-4 từ tháng 08/2024 đến tháng 09/2025. Dữ liệu về đặc điểm bệnh nhân, thông số mổ và kết quả hậu phẫu được thu thập. Kết quả: Tuổi trung vị là 70 (64–74) tuổi; thể tích tuyến trung vị 63,5 (32–200) mL; 73,3% thuộc ASA II. Thời gian phẫu thuật trung vị 120 phút (bóc nhân 70 phút, xay mô 10 phút); khối lượng mô lấy ra 40g. Thời gian lưu thông niệu đạo và nằm viện sau mổ trung vị lần lượt là 3 và 4 ngày. Sau 1 tháng, điểm IPSS giảm từ 27 xuống 8 (p < 0,001), điểm QoL cải thiện từ 5 xuống 2. Tỉ lệ biến chứng chung là 13,3% (bí tiểu và sốt sau mổ mỗi loại 3,3%); 2 ca (6,7%) chuyển mổ mở do lỗi máy xay và chảy máu. Không ghi nhận tiểu không kiểm soát tại thời điểm 1 tháng. Kết luận: HoLEP là phương pháp ít xâm lấn, an toàn và hiệu quả cao trong cải thiện triệu chứng do BPH, áp dụng tốt cho cả bệnh nhân tuyến lớn hoặc có bệnh nền.Phan Quang ToảnNguyễn Nhật TrườngNguyễn Phúc Diễm TiênHà Xuân Thắng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-2594697510.58490/ctjump.2026i94.4550NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ TƯƠNG QUAN ĐẾN KÍCH THƯỚC THẬN TRÊN SIÊU ÂM CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NĂM 2024
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4217
Đặt vấn đề: Siêu âm là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá cấu trúc thận. Mục tiêu nghiên cứu: 1.Mô tả đặc điểm hình thái giải phẫu thận bình thường trên siêu âm ở bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2024; 2.Tìm hiểu sự tương quan giữa các yếu tố: độ tuổi, giới tính, BMI, nơi ở với kích thước thận trên siêu âm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 401 bệnh nhân đến siêu âm tại phòng siêu âm Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ tháng 12 năm 2024 đến tháng 8 năm 2025. Kết quả: Kích thước trung bình của cả hai thận: chiều dài 94,46 ± 7,14 mm, chiều rộng 47,10 ± 10,90 mm, bề dày chung 40,77 ± 7,98 mm, bề dày nhu mô 24,37 ± 3,78 mm và bề dày xoang thận 19,25 ± 6,59 mm. Về giới tính, có sự khác biệt ở chiều dài, bề dày nhu mô thận phải (p<0.05) và chiều rộng, bề dày chung, bề dày nhu mô thận trái (p<0.05). Về tuổi, có sự khác biệt về chiều dài cả hai thận (p<0.05). Kết luận: Kích thước thận ở nam giới có xu hướng lớn hơn nữ giới ở một số chỉ số nhất định. Chiều dài thận giảm đáng kể ở nhóm đối tượng trên 64 tuổi. Chỉ số nhân trắc và nơi sống không có sự ảnh hưởng đến kích thước thận.Lưu Phúc NhânNguyễn Ngọc Kiều MyThạch Thị Hoàng HânLưu Chấn HưngNguyễn Đức HuyLê Thị Thùy DuyênNguyễn Tường ÂnNguyễn Thị Giao HạNguyễn Thị Thảo Trang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-2594768210.58490/ctjump.2026i94.4217NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KHÁNG KHÁNG SINH VÀ KHẢ NĂNG SINH CARBAPENEMASE CỦA VI KHUẨN KLEBSIELLA PNEUMONIAE KHÁNG CARBAPENEM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2024 - 2025
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4278
Đặt vấn đề: Klebsiella pneumoniae kháng carbapenem (CRKP) đang nổi lên như một mối đe dọa lớn trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện và điều trị lâm sàng. Sự gia tăng của các chủng vi khuẩn sinh carbapenemase không chỉ làm suy giảm hiệu lực của nhóm kháng sinh được xem là “tuyến phòng thủ cuối cùng”, mà còn gây khó khăn trong lựa chọn phác đồ điều trị và làm tăng gánh nặng y tế. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Xác định tỉ lệ sinh carbapenemase của vi khuẩn Klebsiella pneumoniae và một số yếu tố liên quan; 2. Xác định tỉ lệ đề kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn Klebsiella pneumoniae. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 57 chủng Klebsiella pneumoniae được phân lập, định danh, thực hiện kháng sinh đồ bằng máy kháng sinh đồ tự động. Phát hiện vi khuẩn sinh men carbapenemase bằng kỹ thuật ức chế kháng sinh carbapenem cải tiến (mCIM) và xác định các yếu tố liên quan. Kết quả: Tỉ lệ sinh carbapenemase trong các chủng CRKP là 63,2% (36/57). Sự sinh carbapenemase có liên quan ý nghĩa thống kê với giới tính nam (p = 0,043) và bệnh phẩm đàm (p = 0,020). Nhóm CRKP đề kháng tuyệt đối (100%) với ampicillin, cefotaxime và đề kháng rất cao (> 86%) với các kháng sinh nhóm carbapenem, fluoroquinolone. Tỉ lệ đề kháng của nhóm CRKP cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm non-CRKP ở hầu hết các kháng sinh thử nghiệm (p < 0,001). Kết luận: Các chủng Klebsiella pneumoniae sinh carbapenemase có tỉ lệ kháng kháng sinh rất cao, khẳng định tính cấp thiết của việc tăng cường giám sát, áp dụng biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn chặt chẽ và sử dụng kháng sinh hợp lý nhằm hạn chế sự lan rộng của vi khuẩn đa kháng.Hoàng Thế NhânNguyễn Thị Kim NgânLý Huy HàoTrần Minh PhápĐặng Chấn ThiênLê Thị Thùy TrangNguyễn Minh TríNguyễn Dương HiểnLê Thúy AnNguyễn Thị Bé Hai
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-2594838910.58490/ctjump.2026i94.4278TỐI ƯU HÓA ĐIỀU KIỆN PHUN SẤY DỊCH CHIẾT HÀ THỦ Ô ĐỎ (FALLOPIA MULTIFLORA (THUNB.)) Ở QUY MÔ PHÒNG THÍ NGHIỆM
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4125
Đặt vấn đề: Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora (Thunb.) được sử dụng lâu đời trong Y học cổ truyền các nước châu Á. Dược liệu này chứa nhiều hợp chất polyphenol có hoạt tính sinh học cao nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ gây độc gan. Quá trình bào chế có thể góp phần làm giảm độc tính và tạo cao khô ổn định, an toàn. Mục tiêu nghiên cứu: Ứng dụng quy hoạch thực nghiệm để tối ưu hóa các điều kiện phun sấy bào chế cao khô Hà thủ ô đỏ chếở quy mô phòng thí nghiệm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tốiưu hóa điều kiện phun sấy bằngphần mềm Modde Pro 12 với các biến độc lập gồm: tỉ lệ maltodextrin:aerosil 200 (X1, từ 0–40%), nhiệt độ khí sấy vào (X2, từ 100– 130°C), tốc độ cấp dịch (X3, từ 1,5–2,5 ml/phút). Các biến phụ thuộc bao gồm tính chất cao khô, hiệu suất thu cao khô và hiệu suất thu polyphenol toàn phần (TPC). Kết quả: Theo hàm mong muốn, điều kiện tối ưu bao gồm: cao chiết 3:1; tá dược aerosil 200; hàm lượng chất rắn trong dịch phun 2%; áp suất khí nén 2 bar; tốc độ cấp dịch 1,5 ml/phút; nhiệt độ khí vào 100 ± 2°C; sử dụng thiết bị Mini Spray-Dryer B-191 (Thụy Sỹ). Ở điều kiện này, cao khô thu được có các đặc tính phù hợp, hiệu suất thu cao khô và TPC lần lượt đạt 63,99% và 52,26% (quy mô 100g cao lỏng/mẻ), phù hợp với giá trị dự đoán của mô hình. Kết luận: Kỹ thuật quy hoạch thực nghiệm là công cụ hiệu quả trong khảo sát và tối ưu hóa điều kiện phun sấy cao khô Hà thủ ô đỏ ở quy mô phòng thí nghiệm.Nguyễn Thị Hồng Thanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-2594909710.58490/ctjump.2026i94.4125TÌNH HÌNH MẮC BỆNH MẠN TÍNH VÀ NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE TẠI NHÀ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2024
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4334
Đặt vấn đề: Dân số người cao tuổi đang gia tăng nhanh, kéo theo gánh nặng bệnh mạn tính và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng lớn. Chăm sóc sức khỏe tại nhà là một giải pháp góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ mắc bệnh mạn tính, nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 330 người cao tuổi tại huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ năm 2024 bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi soạn sẵn. Kết quả: Tỉ lệ người cao tuổi mắc bệnh mạn tính là 73,0%, trong đó 46,7% mắc một bệnh và 26,3% mắc từ hai bệnh trở lên. Tỉ lệ người cao tuổi có nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà là 71,5%. Nhu cầu phổ biến nhất là kiểm tra sức khỏe định kỳ, quản lý bệnh mạn tính và khám, tư vấn, điều trị. Các yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà gồm giới, tôn giáo, tham gia bảo hiểm y tế, người chăm sóc, thu nhập hiện tại và sự thuận tiện khi tiếp cận cơ sở y tế. Kết luận: Tỉ lệ mắc bệnh mạn tính và nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà ở người cao tuổi tại huyện Thới Lai còn cao. Cần phát triển mô hình chăm sóc sức khỏe tại nhà phù hợp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc của người cao tuổi.Trần Minh ThưLê Hữu NghĩaNguyễn Huỳnh NhưLê Thị Tú NiThị Tường OanhTrần Nguyễn Du
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-25949810410.58490/ctjump.2026i94.4334THỰC TRẠNG BÉO PHÌ VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ DẪN ĐẾN BÉO PHÌ CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4419
Đặt vấn đề: Béo phì đang gia tăng nhanh chóng và trở thành một trong những thách thức của ngành y tế trên toàn cầu. Việc xác định tình trạng béo phì và các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng các chiến lược phòng ngừa sớm. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả chỉ số BMI và xác định các yếu tố nguy cơ gây béo phì của sinh viên khóa 49 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 406 sinh viên khóa 49 từ tháng 12/2023 đến tháng 12/2024. Tình trạng béo phì được đánh giá theo tiêu chuẩn WPRO/IDF. Kết quả: Tỉ lệ thừa cân béo phì (TC-BP) chiếm 27,8%, riêng tỉ lệ béo phì là 14,8%. Nghiên cứu ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng béo phì với các yếu tố: tiền sử gia đình có người TC-BP, thói quen ăn trên 3 bữa phụ/ngày, thường xuyên ăn thức ăn nhanh và đồ ngọt, thời gian ngủ ≥9 giờ/ngày. Hoạt động thể lực 30 phút/ngày có vai trò bảo vệ (p<0,05). Kiến thức và nhận thức chưa đúng về béo phì cũng liên quan đến tăng tỉ lệ mắc bệnh (p<0,05). Kết luận: Tỉ lệ béo phì ở sinh viên khóa 49 còn ở mức đáng chú ý. Các yếu tố về gia đình, thói quen ăn uống (thức ăn nhanh, đồ ngọt), giấc ngủ, vận động thể lực và kiến thức, nhận thức là những mắt xích quan trọng trong việc quản lý và phòng ngừa béo phì.Bùi Khánh DuyTrần Thị ThưNgô Phương ThảoĐặng Nhật NamLê Minh TriềuTrần Lê Phước HậuLê Thị Thạch Thảo
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-259410511110.58490/ctjump.2026i94.4419NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM ẤU TRÙNG GIUN ĐŨA CHÓ MÈO TOXOCARA SPP. Ở BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU ĐÀ NẴNG
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4352
Đặt vấn đề: Nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo (Toxocara spp.) là bệnh ký sinh trùng thường gặp, đặc biệt ở người có tiếp xúc với chó, mèo, với biểu hiện lâm sàng da đa dạng như ngứa và mề đay. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ nhiễm Toxocara spp. và một số yếu tố nguy cơ liên quan ở bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Da Liễu Đà Nẵng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 2.524 bệnh nhân có triệu chứng ngứa và/hoặc mề đay đến khám tại Bệnh viện Da Liễu Đà Nẵng từ tháng 01/2025 đến tháng 08/2025. Bệnh nhân được khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm miễn dịch học, huyết học để chẩn đoán nhiễm Toxocara spp. theo hướng dẫn của Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 1358/QĐ-BYT ngày 30/5/2022. Kết quả: Tỉ lệ dương tính với xét nghiệm miễn dịch kháng thể kháng ấu trùng Toxocara spp. là 28,9%. Việc tăng IgE toàn phần có mối liên hệ chặt chẽ với nhiễm Toxocara. Các yếu tố nguy cơ như tiếp xúc với chó/mèo và không rửa tay trước khi ăn có liên quan với nguy cơ nhiễm bệnh (p<0,001). Kết luận: Nhiễm Toxocara spp. chiếm tỉ lệ cao ở bệnh nhân có tiếp xúc với chó, mèo và vệ sinh cá nhân chưa đảm bảo. Cần tăng cường tẩy giun định kỳ cho chó, mèo và giáo dục vệ sinh để phòng bệnh. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp bằng chứng dịch tễ học quan trọng cho công tác sàng lọc bệnh.Trần Thẩm HồngLê Xuân VinhĐinh Thị Hương TrúcNguyễn Thị Hoài ThuCao Văn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-259411211810.58490/ctjump.2026i94.4352ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ KỸ NĂNG THỰC HÀNH VÀ THỰC TRẠNG TUÂN THỦ SỬ DỤNG BÌNH XỊT/HÍT ĐỊNH LIỀU CỦA BỆNH NHÂN COPD ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2024 - 2025
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4188
Đặt vấn đề: Điều trị Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) bằng bình xịt/hít định liều là yếu tố quan trọng. Tuy nhiên, kiến thức về kỹ năng thực hành và tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân còn thấp. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Đánh giá kiến thức về kỹ năng thực hành và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng bình xịt/hít định liều. 2. Đánh giá thực trạng tuân thủ và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng bình xịt/hít định liều. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến hành trên 96 bệnh nhân COPD điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang năm 2024-2025. Dữ liệu thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp thông qua bộ câu hỏi đánh giá mức độ kiến thức về kỹ năng thực hành và thang đo TAI đánh giá mức độ tuân thủ sử dụng bình xịt/hít định liều. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 25.0 với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05. Kết quả: Mức độ kiến thức về kỹ năng thực hành đúng chiếm 37,5% và không đúng chiếm 62,5%. Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa mức độ kiến thức với nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp và trình độ học vấn (p>0,05). Mức độ tuân thủ sử dụng bình xịt/hít định liều cao, trung bình và thấp chiếm lần lượt là 1%, 8,3% và 90,6%. Mức độ tuân thủ không khác biệt theo mức độ kiến thức về kỹ năng thực hành, giới tính và trình độ học vấn (p>0,05). Kết luận: Kiến thức không đúng về kỹ năng thực hành cao và mức độ tuân thủ sử dụng bình xịt/hít định liều còn thấp. Nghiên cứu chưa ghi nhận mối liên quan giữa các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với hai yếu tố trên.Nguyễn Phú QuíLâm Sỹ KhangBùi Minh HiếuTống Phước ThịnhNguyễn Thu Thảo Nguyên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-259411912610.58490/ctjump.2026i94.4188TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2024
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4257
Đặt vấn đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một trong ba nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn cầu. Đợt cấp là biến cố quan trọng trong tiến trình bệnh, thường do nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới. Việc sử dụng kháng sinh hợp lý là thiết yếu để kiểm soát nhiễm khuẩn và giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc. Do đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng và mức độ phù hợp trong sử dụng kháng sinh góp phần tối ưu hóa chiến lược quản lý thuốc tại đơn vị. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng và tính phù hợp trong sử dụng kháng sinh điều trị đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên hồ sơ bệnh án của bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị nội trú từ ngày 01/01/2024 đến ngày 31/12/2024 có chỉ định kháng sinh. Tính phù hợp được đánh giá dựa trên Quyết định số 2767/QĐ-BYT của Bộ Y tế. Kết quả: Người bệnh có độ tuổi trung bình 71,5; nam giới chiếm 89,4%. Tăng huyết áp là bệnh đồng mắc phổ biến nhất với 46,3%. Đợt cấp mức độ trung bình chiếm 83,3%, với triệu chứng đờm mủ ghi nhận ở 61,2% trường hợp. Phác đồ phối hợp hai loại kháng sinh chiếm ưu thế với 63,0%; trong đó levofloxacin, ceftriaxon và piperacilin + tazobactam được sử dụng phổ biến nhất. Thời gian sử dụng kháng sinh trung vị là 5 ngày. Tỉ lệ chỉ định kháng sinh phù hợp theo Bộ Y tế đạt 61,2%. Kết luận: Nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ chỉ định kháng sinh phù hợp đạt 61,2%, tuy nhiên tỉ lệ phù hợp có thể chưa phản ánh toàn diện thực tế lâm sàng do phụ thuộc vào mức độ chi tiết của việc ghi chép hồ sơ bệnh án và các tình huống bệnh lý đặc thù.Hứa Bé ThảoTrần Ngọc KhởiNgô Trí AnhPhan Văn BìnhLữ Thị Kim Chi
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-259412713310.58490/ctjump.2026i94.4257KHẢO SÁT ĐỘC TỐ CAGA, VACA Ở CÁC BỆNH NHÂN VIÊM LOÉT DẠ DÀY - TÁ TRÀNG DO HELICOBACTER PYLORI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4273
Đặt vấn đề: Helicobacter pylori (H. pylori) là nguyên nhân chính gây bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng, cơ chế bệnh sinh của bệnh chủ yếu liên quan đến sự biến đổi gen độc lực giữa các chủng, đặc biệt là ở các gene cytotoxin – associated A (cagA) và vacuolating cytotoxin A (vacA). Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ hiện diện các gen độc lực cagA, vacA ở bệnh nhân viêm loét dạ dày - tá tràng do H. pylori tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ và khảo sát mối liên quan giữa hiện diện các gen độc lực cagA, vacA với các loại bệnh lý viêm loét dạ dày - tá tràng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 49 bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ có kết quả dương tính với H. pylori bằng phương pháp CLO test và các gen cagA, vacA được xác định bằng phương pháp real-time PCR. Kết quả: Ở các bệnh nhân viêm loét dạ dày - tá tràng do H. pylori, tỉ lệ dương tính với cagA là 71,4%, tỉ lệ dương tính với vacA là 98%. Kết luận: Tỉ lệ cagA(+), vacA(+) cao. Không tìm thấy mối liên quan giữa bệnh lý viêm loét dạ dày - tá tràng với sự phân bố của cagA, vacAHoàng Thành VinhHuỳnh Thị Thảo TrâmTrần Ngọc NguyênLê Thị Yến NhiHuỳnh Nhật HàoĐinh Thị Hương TrúcTrần Thị ThưTrần Thị Như Lê
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-259414415010.58490/ctjump.2026i94.4273ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN IIIB-IV CÓ ĐỘT BIẾN EGFR BẰNG TYROSINE KINASE THẾ HỆ 1 TẠI CẦN THƠ 2020 - 2023
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4270
Đặt vấn đề: Ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn thường diễn tiến âm thầm, triệu chứng không đặc hiệu và đa số đã có di căn tại thời điểm chẩn đoán, dẫn đến tiên lượng xấu. Việc phát hiện đột biến EGFR là bước tiến quan trọng trong điều trị, đặc biệt ở bệnh nhân châu Á với tỉ lệ đột biến khoảng 10–50% (exon 18–21). Các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKIs) thế hệ 1 đã chứng minh hiệu quả trong cải thiện đáp ứng, kéo dài thời gian sống và dung nạp tốt. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đánh giá kết quả điều trị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIB–IV điều trị TKIs thế hệ 1. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trên 58 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIB–IV có đột biến EGFR, điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Cần Thơ và Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ 6/2020–12/2023. Kết quả: Tuổi trung bình 63,6; tỉ lệ nữ/nam 1,64/1. Triệu chứng thường gặp: đau ngực (65,5%) và khó thở (53,4%). Di căn ≥2 cơ quan chiếm 53,4%, thường gặp ở xương (46,6%) và màng phổi (39,7%). Đột biến exon 19 chiếm 60,4%, L858R 36,2%. ORR đạt 71,5%, DCR 95,3%. Trung vị PFS 16,1 tháng và OS 21,2 tháng. Các yếu tố liên quan đến sống còn gồm loại đột biến và ban da. Tác dụng phụ chủ yếu là ban da (65,5%) và tiêu chảy (31,1%), đa số độ I–II. Kết luận: TKIs thế hệ 1 cho hiệu quả cao, cải thiện sống còn và chất lượng sống, thuốc an toàn và dung nạp tốt ở bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tiến xa có đột biến EGFR.Huỳnh Minh ĐôngLê Thanh VũDương Lê Tấn TrườngPhạm Minh ChiếnPhạm Thị NgọcThạch Thị Hoài Thương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-259415115710.58490/ctjump.2026i94.4270ISOTRETINOIN LIỀU THẤP TRONG ĐIỀU TRỊ MỤN TRỨNG CÁ
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4162
Mụn trứng cá là một bệnh lý mạn tính phổ biến ảnh hưởng đến thẩm mỹ và sức khỏe tinh thần của nhiều người. Bệnh đặc trưng bởi các thương tổn mụn nhân, sẩn viêm, mụn mủ, và nốt nang. Có nhiều phương pháp điều trị như liệu pháp tại chỗ, toàn thân, một số thủ thuật cho đến can thiệp chế độ ăn uống, sinh hoạt. Dù vậy cho đến nay phương pháp điều trị hiệu quả nhất vẫn là isotretinoin. Thuốc này được sử dụng gần 40 năm nay cho thấy hiệu quả cao trong điều trị mụn trứng cá; tuy nhiên, đi kèm là rất nhiều tác dụng phụ lên các cơ quan. Liều chuẩn của isotretinoin là 0,5-1 mg/kg/ngày trong 4-6 tháng cho đến khi đạt liều tích lũy 120-150 mg/kg. Trong những năm gần đây, isotretinoin liều thấp được báo cáo là có hiệu quả tương tự liều chuẩn với tác dụng phụ ít hơn và sự hài lòng cao hơn. Định nghĩa về liều thấp của isotretinoin vẫn chưa được thống nhất giữa các nghiên cứu. Mặc cho có rất nhiều nghiên cứu báo cáo về isotretinoin liều thấp trên thế giới, đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về isotretinoin liều thấp tại Việt Nam. Bài báo này giúp các bác sĩ lâm sàng có một cái nhìn cụ thể hơn về isotretinoin liều thấp trong việc điều trị và quản lý tái phát mụn trứng cá, cung cấp thông tin mang tính cập nhật về tính an toàn và hiệu quả điều trị của isotretinoin liều thấp. Tuy các bằng chứng chưa đủ để đưa vào các khuyến cáo điều trị hiện tại, nhưng không thể phủ nhận xu hướng sử dụng isotretinoin liều thấp ngày càng được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn do tính an toàn và hiệu quả mà nó đem lại. Qua đó, chúng ta có thể hướng đến một chế độ mới trong điều trị mụn trứng cá, giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị, hạn chế tác dụng phụ và cải thiện sự hài lòng ở bệnh nhân mụn trứng cá.Nguyễn Huy LộcĐào Hoàng Thiên KimTrần Quang NhânLý Kim BíchHuỳnh NhưNguyễn Văn Thống
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-259415816810.58490/ctjump.2026i94.4162NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA SUY TIM PHÂN SUẤT TỐNG MÁU GIẢM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ NĂM 2024 - 2025
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4342
Đặt vấn đề: Suy tim là hậu quả của nhiều bệnh lý tim mạch. Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị bằng phác đồ kết hợp bốn nhóm thuốc nền tảng ACEi/ARB/ARNI, BB, MRA, SGLT2i theo khuyến cáo mới của Bộ Y tế Việt Nam năm 2022 tới nay vẫn còn khá hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nhận xét kết quả điều trị nội khoa bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2024-2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 80 bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm tại Khoa Nội Tim mạch – Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 06/2024 đến 06/2025. Kết quả: Triệu chứng suy tim thường gặp là khó thở khi gắng sức (100%); dấu hiệu suy tim thường gặp là ran phổi (58,8%); EF trung bình là 31,46 ± 6,2%; NT-proBNP trung bình là 18510,68 ± 12176,2 pg/mL. Sau 12 tuần điều trị, phác đồ kết hợp các thuốc nền tảng (ACEI/ARB/ARNI, BB, MRA, SGLT2i) đủ bốn thuốc tăng từ 6,3% lên 20,3%; sự cải thiện triệu chứng và dấu hiệu suy tim có ý nghĩa thống kê với lần lượt p<0,001 và p<0,05; sự cải thiện phân độ NYHA không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi trên bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm ghi nhận khó thở khi gắng sức và ran phổi là các triệu chứng suy tim thường gặp, EF trung bình 31,46 ± 6,2%, NT-proBNP trung bình 18510,68 ± 12176,2 pg/mL. Sau 12 tuần điều trị, tăng sử dụng phác đồ kết hợp các nhóm thuốc nền tảng cho thấy cải thiện rõ rệt tình trạng lâm sàng.Ngô Tiến TrìnhNguyễn Duy KhươngHuỳnh Văn QuyTrần Lê Anh KhôiNguyễn Ngọc Hoàng TiênGiang Mỹ Linh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-259416917510.58490/ctjump.2026i94.4342KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM PHÚC MẠC DO DỊ VẬT ỐNG TIÊU HOÁ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA AN GIANG
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4388
Đặt vấn đề: Dị vật trong ống tiêu hóa là một tình huống lâm sàng thường gặp. Phần lớn dị vật có thể tự thoát ra ngoài theo đường tự nhiên hoặc can thiệp nội soi, chỉ khoảng dưới 1% bệnh nhân cần phải phẫu thuật. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trịvà kinh nghiệm xử trí viêm phúc mạc do dị vật ống tiêu hoá tại Khoa Ngoại Tổng hợp – BVĐK An Giang. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 71 bệnh nhân được chẩn đoán viêm phúc mạc trước và trong mổ do dị vật ống tiêu hoá tại khoa Ngoại Tổng hợp – BVĐK An Giang từ 01/04/2022 đến 31/8/2025. Kết quả: Nam/nữ là 43/28, tuổi trung bình 58.46 ±13.52, vị trí thủng thường gặp: hồi tràng (38%), dạ dày – tá tràng (11.3%), hỗng tràng (11,3%), đại tràng (36.62%), trực tràng (4.23%). Các loại dị vật: Xương cá (80.3%), que tăm (8,5%), xương động vật khác (7%), thời gian nằm viện sau mổ trung bình: 7.9 ±3.45 ngày. Xuất viện 63 TH (88.7%), tử vong 8 TH (11.27%). Kết luận: Dị vật đường tiêu hoá thường xảy ra trên những đối tượng đặc biệt. Biến chứng thủng ống tiêu hoá hiếm gặp (<1%), nhưng nghiêm trọng. Cắt lớp vi tính cho thấy giá trị cao trong việc hỗ trợ chẩn đoán, xác định nguyên nhân và vị trí tổn thương. Phẫu thuật cấp cứu kết hợp kháng sinh là phương pháp xử trí thiết yếu. Cần tuyên truyền giáo dục sức khoẻ trong cộng đồng, giúp nâng cao nhận thức giảm thiểu hậu quả nuốt dị vật.Lê Huy CườngTrần Nguyễn Quang TrungLê Chí ThanhLê Trung TínHồ Nguyễn Hoàng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-259417618410.58490/ctjump.2026i94.4388HẠT NANO VÀNG VỎ ĐỒNG VÀ SINH PHẨM TÁI TỔ HỢP: TRIỂN VỌNG CHO XÉT NGHIỆM NHANH ĐỘ NHẠY CAO
https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4307
Các bệnh lý như lao và Alzheimer đòi hỏi phát hiện sớm với độ nhạy cao để can thiệp kịp thời, tuy nhiên các kỹ thuật hiện nay như ELISA, PCR còn hạn chế về chi phí và độ nhạy. Những tiến bộ gần đây trong công nghệ nano cho thấy hạt nano vàng vỏ đồng kết hợp sinh phẩm tái tổ hợp (protein hoặc aptamer) có thể khuếch đại tín hiệu màu, mở ra triển vọng cho chẩn đoán sớm siêu nhạy. Bài tổng quan này phân tích cơ chế kỹ thuật xét nghiệm kháng nguyên bằng sự hình thành vỏ nano đồng trên hạt vàng, trong đó ion Cu²⁺ được khử bởi natri ascorbate trên bề mặt AuNPs với vai trò ổn định của polyethylenimine, tạo cấu trúc Au-Cu đa giác giúp tăng cường tín hiệu plasmon. Hai biến thể được khảo sát gồm hệ kháng thể tái tổ hợp GBP-CFP10G2/GBP-50B14 phát hiện kháng nguyên lao CFP-10, Ag85B, và hệ aptamer nhận biết p-tau231 hoặc AβO42 trong Alzheimer. Các hệ này đạt giới hạn phát hiện thấp đến mức picogram/mL và có thể quan sát bằng mắt thường. Phương pháp Au@Cu thể hiện ưu điểm nổi bật về độ nhạy, chi phí thấp và khả năng tích hợp với nền tảng giấy hoặc thiết bị di động, nhưng vẫn tồn tại thách thức về tính ổn định của lớp đồng, khả năng phản ứng chéo và chuẩn hóa quy trình. Triển vọng tương lai hướng đến cải thiện vật liệu nano, tự động hóa quy trình trên nền vi kênh và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong định lượng tín hiệu, hướng tới nền tảng xét nghiệm nhanh, chính xác và thân thiện chi phí cho chẩn đoán sớm tại cộng đồng.Phan Lê Minh Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-01-252026-01-259413414310.58490/ctjump.2026i94.4307