https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/issue/feedTạp chí Y Dược học Cần Thơ2026-07-01T06:40:45+07:00Tạp chí Y Dược học Cần Thơtapchidhydct@ctump.edu.vnOpen Journal Systems<p class="p0">04/10/2015 Ministry of Information and Communications allowed Can Tho journal of medicine and pharmacy to operate (102 /GP-BTTTT)</p> <p class="p0"><strong>07/16/2015 Can Tho journal of medicine and pharmacy is internationally recognized:ISSN 2354-1210</strong></p> <p class="p0"><strong>In 2016, The journal has been included in the list of medical science journals by The State Council for professorship which is awarded a work score of 0-0.5 points for a published article.</strong></p> <p class="p0">Can Tho Journal of Medicine and Pharmacy welcome original works that haven’t been submitted or published in other medical journals. Posts must contain content related to one of the journal’s categories.</p>https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4462MÔ TẢ HÌNH ẢNH VÀ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA CẮT LỚP VI TÍNH TRÊN BỆNH NHÂN VIÊM XOANG MẠN DO NẤM TẠI CẦN THƠ NĂM 2025 - 20262026-05-16T16:43:03+07:00Phạm Thị Mỹ Lệ82.phamle@gmail.comNguyễn Vũ ĐằngChâu Chiêu HoàĐặt vấn đề: Viêm xoang do nấm là tình trạng viêm xoang kéo dài với sự hiện diện của nấm gây tổn thương niêm mạc và tổ chức xung quanh. Chụp cắt lớp vi tính chính là yếu tố quan trọng nhất giúp chẩn đoán nguyên nhân viêm xoang mạn. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả hình ảnh và đánh giá giá trị chẩn đoán của cắt lớp vi tính trên bệnh nhân viêm xoang mạn do nấm tại Cần Thơ năm 2025-2026. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang trên 78 bệnh nhân viêm xoang mạn tính tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ và Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ năm 20252026. Kết quả: Trên CT scan, tổn thương thường gặp ở một xoang (55,3%), tiếp theo là hai xoang (28,9%) và trên hai xoang (15,8%); xoang hàm là vị trí bị ảnh hưởng ở 100% trường hợp. Dày niêm mạc xoang gặp ở 89,5% bệnh nhân. Đám mờ xoang chủ yếu ở dạng mờ bán phần (52,6%) và mờ toàn phần (44,7%). Các dấu hiệu đặc trưng như vôi hóa (52,6%) và dày thành xương (44,7%) xuất hiện với tỷ lệ đáng kể, trong khi tiêu xương và xâm lấn ít gặp (đều 5,3%). Thang điểm Lund–Mackay trung bình là 5,59 ± 1,59, trong đó đa số bệnh nhân thuộc độ 2 (5–9 điểm, 73,1%) So với tiêu chuẩn vàng là soi nấm/giải phẫu bệnh, CT scan trong chẩn đoán viêm xoang do nấm có độ nhạy 86,8%, độ đặc hiệu 82,5% và độ chính xác 84,6%. Giá trị LR⁺ = 4,96 và LR⁻ = 0,16. Kết luận: CT là công cụ định hướng tốt tuy nhiên không thay thế soi nấm và/hoặc giải phẫu bệnh trong chẩn đoán xác định.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4482NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐÓNG ĐINH NỘI TỦY TRONG ĐIỀU TRỊ GÃY THÂN XƯƠNG ĐÙI TẠI BỆNH VIỆN ĐÀ NẴNG2026-05-16T16:55:42+07:00Lê Quang Minhminhle.hoanmy@gmail.comĐặt vấn đề: Tại Việt Nam, nhiều trung tâm chấn thương chỉnh hình đã áp dụng phương pháp đóng đinh nội tủy có chốt để điều trị gãy thân xương đùi. Nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Đà Nẵng nhằm đánh giá kết quả điều trị gãy thân xương đùi bằng phương pháp đóng đinh nội tủy. Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá một số kết quả của phẫu thuật đóng đinh nội tủy điều trị gãy thân xương đùi tại bệnh viện Đà Nẵng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ 1/2022 đến 9/2023 với 32 bệnh nhân. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số bệnh nhân được phẫu thuật trong vòng 2-3 ngày sau khi nhập viện (75%), thời gian phẫu thuật trung bình là 74.2 ± 16.2 phút. Thời gian nằm viện trung bình là 8.3 ± 2.3 ngày. Tại thời điểm 1 năm sau phẫu thuật, tỷ lệ liền xương là 90.6%, có 3 bệnh nhân bị khớp giả phải phẫu thuật lần 2. Theo thang điểm Ter-Schiphort, kết quả rất tốt – tốt chiếm 90.6%, trong khi đó kết quả xấu chiếm 9.4%. Kết luận: Kết quả này cho thấy việc sử dụng đinh nội tủy có thể thực hiện thường quy tại bệnh viện. Tuy nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế, bao gồm cỡ mẫu nhỏ, thiết kế mô tả và không có nhóm chứng.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4530NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐA HÌNH rs4950928 GEN CHI3L1 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ KIỂM SOÁT Ở BỆNH NHÂN HEN PHẾ QUẢN2026-05-25T01:52:25+07:00Phạm Thị Ngọc Thảophamthaodmc@gmail.comVõ Phạm Minh Thưvpmt@ctump.edu.vnPhạm Thị Ngọc NgaĐặt vấn đề: Hen phế quản là bệnh hô hấp đặc trưng bởi tình trạng viêm mạn tính. Gen CHI3L1 đóng vai trò quan trọng trong tổn thương hô hấp này thông qua trung gian tế bào Th2. Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về đa hình rs4950928 gen CHI3L1 và mối liên quan đến mức độ kiểm soát hen. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Xác định tỷ lệ đa hình rs4950928 gen CHI3L1 trên bệnh nhân hen phế quản; 2. Xác định một số yếu tố liên quan đến mức độ kiểm soát hen trên bệnh nhân hen phế quản. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 134 bệnh nhân hen được quản lý tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Tây Ninh. Thu thập qua bộ câu hỏi và xác định đa hình rs4950928 gen CHI3L1 bằng kỹ thuật RFLP-PCR từ tháng 05/2025 đến 05/2026. Kết quả: Tuổi trung bình là 58,9 ± 12,4 tuổi, nhóm kiểm soát hen một phần chiếm tỷ lệ cao nhất là 52,6%. Đa hình rs4950928 của gen CHI3L1 có phân bố chủ yếu là kiểu gen CC với 79,1%, phù hợp với đặc điểm di truyền của quần thể châu Á. Bệnh nhân có hút thuốc có liên quan đến không kiểm soát hen( p=0,015). Sự hiện diện của ít nhất một alen G (nhóm CG+GG) có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p=0,002) với tình trạng không kiểm soát hen. Bệnh nhân mang alen G (kiểu gen CG, GG) là yếu tố rủi ro độc lập khiến bệnh nhân khó đạt kiểm soát hen. Kết luận: Đặc điểm đa hình rs4950928 của gen CHI3L1 với kiểu gen CC chiếm ưu thế. Có mối liên quan giữa kiểm soát hen với hút thuốc lá và kiểu gen CG, GG. Kiểu gen CG và GG là yếu tố rủi ro độc lập khiến bệnh nhân không kiểm soát hen.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4448NGHIÊN CỨU BỆNH TRẦM CẢM Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TRONG CỘNG ĐỒNG TẠI THỊ Xà TÂN CHÂU2026-05-23T04:56:30+07:00Nguyễn Hồng Hạnhhanhnguyen20061991@gmail.comPhan Thị Phương Thảophanthiphuongthaotcag@gmail.comĐặt vấn đề: Sự phát triển của xã hội kéo theo nhu cầu quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe tâm thần, đặc biệt là trầm cảm. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu tỷ lệ và các yếu tố liên quan về bệnh trầm cảm ở người trưởng thành trong cộng đồng tại thị xã Tân Châu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 840 người từ 18-60 tuổi tại thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang từ tháng 06/2024 đến tháng 05/2025. Thang đo PHQ-9 được sử dụng để đánh giá mức độ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu. Tổng điểm dao động từ 0 đến 27 điểm, phân loại trầm cảm: 5-14 điểm: mức độ nhẹ vừa; 15-19 điểm: mức độ nặng vừa; 20-27 điểm: mức độ nặng. Kết quả: Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ trầm cảm ở đối tượng tham gia là 17%. Trong đó, 11,5% đối tượng trầm cảm nhẹ vừa; 3,7% nặng vừa; 1,8% nặng. Bệnh mạn tính (OR=1,7; p=0,03) và áp lực cuộc sống (OR=1,711; p=0,04) được tìm thấy có ý nghĩa thống kê liên quan đến trầm cảm. Kết luận: Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả phát hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan trong cộng đồng người trưởng thành tại thị xã Tân Châu.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4668ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH MỤN TRỨNG CÁ TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU DA THẨM MỸ QUỐC TẾ FOB NĂM 2025-20262026-05-14T02:38:55+07:00Võ Thị Lam Quỳnhlamquynh248@gmail.comHuỳnh Văn BáTrần Thị Thu ThảoĐặt vấn đề: Mụn trứng cá là một bệnh lý da liễu mạn tính phổ biến toàn cầu, không chỉ gây ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ mà còn dẫn đến những hệ lụy tâm lý xã hội nghiêm trọng như lo âu, trầm cảm và hình thành sẹo vĩnh viễn, từ đó làm suy giảm đáng kể chất lượng cuộc sống của người bệnh. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh mụn trứng cá tại Viện nghiên cứu da thẩm mỹ Quốc tế FOB. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 94 người bệnh ≥ 18 tuổi được chẩn đoán mụn trứng cá thông thường tại Viện nghiên cứu da thẩm mỹ Quốc tế FOB từ tháng 8/2025 đến tháng 2/2026. Kết quả: Bệnh ghi nhận nhiều ở nữ giới (76,6%), chủ yếu từ 18 - 25 tuổi (71,3%). Triệu chứng ngứa chiếm 22,3%, đau rát 20,2%, châm chích/kiến bò 8,5%. Người bệnh có thương tổn da không viêm chiếm 100%, có thương tổn viêm chiếm 91,5%. Vị trí xuất hiện thương tổn ở vùng má (100%), trán (96,8%), cằm (91,5%), mũi (79,8%), vùng cổ, ngực và lưng (17%). Triệu chứng đi kèm có đỏ da-giãn mạch (6,4%), da khô-tróc vảy (3,2%), viêm da quanh miệng (2,1%). Có 15,9% người bệnh bị mụn trứng cá mức độ nhẹ, 71,3% ở mức trung bình và 12,8% ở mức nặng. Người bệnh có chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng ở mức vừa phải chiếm tỷ lệ cao nhất (67%). Kết luận: Người bệnh mụn trứng cá đến khám chủ yếu là nữ giới, nhiều nhất ở lứa tuổi từ 18 đến 25. 100% người bệnh có thương tổn không viêm, 91,5% có thương tổn viêm. Mụn trứng cá có ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng cuộc sống người bệnh, mức độ mụn càng nặng chất lượng cuộc sống càng bị ảnh hưởng.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4834KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT GÃY LIÊN MẤU CHUYỂN XƯƠNG ĐÙI KHÔNG VỮNG BẰNG ĐINH NỘI TỦY CHỐNG XOAY2026-06-07T09:36:59+07:00Diệp Nguyễn Bảo ToànBsbaotoan@gmail.comNguyễn Thành TấnVõ Huỳnh TrangĐặt vấn đề: Gãy liên mấu chuyển xương đùi là một trong những gãy xương phổ biến trong chấn thương ở người lớn tuổi. Phương pháp đóng đinh nội tủy chống xoay đầu trên xương đùi là phương pháp thích hợp để điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả phẫu thuật bằng đinh nội tủy chống xoay ở bệnh nhân gãy liên mấu chuyển xương đùi mất vững. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 32 bệnh nhân gãy liên mấu chuyển xương đùi được phẫu thuật kết hợp xương bằng phương pháp đóng đinh nội tủy chống xoay đầu trên xương đùi tại Cần Thơ từ tháng 6/2025 đến tháng 12/2025. Kết quả: Nghiên cứu thực hiện trên 32 bệnh nhân, 23 nữ và 9 nam, tuổi trung bình 71,12 ± 13,70 , gãy A2 và A3 chiếm tỷ lệ 71,88% và 28,12%. Đánh giá kết quả sau 6 tháng, ghi nhận điểm khớp háng trung bình theo thang điểm Harris là 83,41 ± 9,40 điểm, tỷ lệ tốt và rất tốt chiếm 71,88%. Kết luận: Điều trị phẫu thuật gãy liên mấu chuyển xương đùi không vững bằng đinh nội tủy chống xoay là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi với tỷ lệ liền xương cao và kết quả phục hồi chức năng tốt. Tuy nhiên, cần chú ý kỹ thuật để tránh biến cố gãy thêm mấu chuyển.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4666TỶ LỆ MANG GEN NDM-1 VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI KIỂU HÌNH ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA KLEBSIELLA PNEUMONIAE Ở BỆNH NHÂN VIÊM PHỔI2026-05-11T08:39:11+07:00Đặng Võ Minh Thyminhthy23051999@gmail.comCao Thị Mỹ Thuýbscaothimythuy@gmail.comTrần Thanh HùngĐặt vấn đề: Viêm phổi là bệnh lý với tỷ lệ mắc bệnh cao và tử vong ngắn hạn, dài hạn ở các nhóm tuổi trên toàn thế giới trong đó viêm phổi do Klebsiella pneumoniae chiếm phần lớn và đề kháng cao với nhiều kháng sinh đồng thời tỷ lệ trực khuẩn gram âm mang gen kháng thuốc ngày càng gia tăng. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Xác định tỷ lệ nhiễm, kiểu hình đề kháng kháng sinh của K.pneumoniae ở bệnh nhân viêm phổi; 2. Xác định tỷ lệ mang gen kháng thuốc NDM-1 và mối liên quan với kiểu hình đề kháng kháng sinh của K.pneumoniae ở bệnh nhân viêm phổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 153 bệnh nhân viêm phổi được điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2024-2026. Thực hiện nuôi cấy phân lập và định danh vi khuẩn từ mẫu bệnh phẩm đường hô hấp dưới bằng hệ thống tự động và kỹ thuật realtime PCR. Kết quả: Trong 153 bệnh nhân viêm phổi, tỷ lệ bệnh nhân viêm phổi do Klebsiella pneumoniae chiếm 37,9%. Kiểu hình đề kháng kháng sinh dựa trên kết quả kháng sinh đồ lần lượt là XDR(86,7%),MDR(13,3%) đồng thời tỷ lệ K.pneumoniae mang gen NDM-1 chiếm 44,8% và gen NDM-1 có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với kiểu hình đề kháng kháng sinh. Kết luận: Viêm phổi do K. pneumoniae chiếm tỷ lệ đáng kể và có mức độ kháng kháng sinh cao. Gen NDM-1 lưu hành với tỷ lệ lớn và liên quan với kiểu hình đề kháng kháng sinh.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4624ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM MŨI DO QUÁ PHÁT CUỐN MŨI DƯỚI BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI BẺ CUỐN MŨI KẾT HỢP ĐỐT LASER CO2 TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NĂM 2025-20262026-05-23T03:17:03+07:00Trần Minh Hạnhtmhanh88@gmail.comNguyễn Triều ViệtNguyễn Thành VănĐặt vấn đề: Quá trình viêm mũi mạn tính dẫn đến quá phát cuốn mũi dưới kháng trị với điều trị nội khoa cần có phương án phẫu thuật nhằm mang lại hiệu quả bền vững. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân viêm mũi do quá phát cuốn mũi dưới tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2025 – 2026; 2. Đánh giá kết quả điều trị viêm mũi do quá phát cuốn mũi dưới bằng phẫu thuật nội soi bẻ cuốn mũi kết hợp đốt laser CO2 tại Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ năm 2025 - 2026. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 23 bệnh nhân từ 18 tuổi, được phẫu thuật nội soi bẻ xương cuốn mũi kết hợp đốt laser CO2 tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ tháng 07 năm 2025 đến tháng 02 năm 2026. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu có can thiệp, không nhóm chứng. Kết quả: Thời gian phẫu thuật dưới 30 phút chiếm 56,5% ở nhóm chỉnh hình cuốn mũi dưới đơn thuần, mức độ nghẹt mũi nghiêm trọng 65,2%, trung bình 34,8%. Điểm NOSE trung bình trước phẫu thuật 65,6 ± 12,17, sau 3 tháng phẫu thuật còn 4,5 ± 5,01. Không có tai biến trong phẫu thuật 91,4%. Sau phẫu thuật 3 tháng, lành thương mức độ tốt 100%, cuốn mũi dưới thu nhỏ thể tích 87,1%. Không có biến chứng vẩy cứng và viêm lộ xương cuốn. Kết luận: phẫu thuật bằng CO2 kết hợp bẻ xương cuốn mũi dưới giúp thu nhỏ thể tích cuốn mũi dưới, phòng ngừa các biến chứng của rối loạn thông khí qua mũi và tránh được biến chứng ảnh hưởng đến chức năng sinh lý mũi. Phương pháp này đáp ứng tất cả các tiêu chí lý tưởng để điều trị nghẹt mũi phì đại cuốn mũi dưới, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm nguy cơ biến chứng.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4729ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CẢI THIỆN VẬN ĐỘNG TRÊN BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO GIAI ĐOẠN HỒI PHỤC BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẤY CHỈ KẾT HỢP BÀI THUỐC LỤC VỊ ĐỊA HOÀNG THANG, ĐIỆN CHÂM VÀ XOA BÓP BẤM HUYỆT2026-05-11T09:20:36+07:00Nguyễn Hà Diểm Mydr.minhtan1903@gmail.comPhan Anh TuấnHuỳnh Thanh VũĐặt vấn đề: Đột quỵ não hiện vẫn là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng trên toàn cầu do gây tử vong cao và để lại nhiều di chứng kéo dài. Trong Y học cổ truyền, nhiều phương pháp đã được áp dụng như châm cứu, điện châm, xoa bóp bấm huyệt, dùng thảo dược và đặc biệt là cấy chỉ catgut vào huyệt - một kỹ thuật châm cứu cải tiến, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật dựa trên nền tảng lý luận kinh lạc. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả cải thiện vận động ở bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn phục hồi được điều trị bằng phương pháp cấy chỉ kết hợp bài thuốc Lục vị địa hoàng thang, điện châm và xoa bóp bấm huyệt. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm can thiệp lâm sàng không đối chứng, thực hiện trên 36 bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn phục hồi điều trị nội trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền Cần Thơ và Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ từ tháng 02/2025 đến tháng 02/2026. Bệnh nhân được điều trị theo liệu trình kết hợp bài thuốc Lục vị địa hoàng thang và cấy chỉ, điện châm, xoa bóp bấm huyệt. Kết quả: Sau 20 ngày điều trị, chức năng vận động và khả năng sinh hoạt hằng ngày của bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn hồi phục cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ phụ thuộc hoàn toàn theo thang điểm Rankin sửa đổi giảm từ 13,9% xuống 0%, đồng thời xuất hiện 5,6% bệnh nhân đạt mức độc lập hoặc nhẹ (p < 0,01). Theo thang điểm Barthel, tỷ lệ mức yếu giảm từ 75% xuống 0%, trong khi mức khá tăng lên 63,9% sau điều trị (p < 0,01). Tỷ lệ điều trị có hiệu quả đạt 61,1% tại thời điểm ngày 20, cho thấy phác đồ can thiệp mang lại cải thiện có ý nghĩa thống kê và giá trị lâm sàng rõ rệt. Kết luận: Phương pháp cấy chỉ kết hợp Lục vị địa hoàng thang, điện châm và xoa bóp bấm huyệt giúp cải thiện chức năng vận động và mức độ độc lập sinh hoạt ở bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn hồi phục.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4705GIÁ TRỊ CỦA M2BPGi TRONG ĐÁNH GIÁ XƠ GAN TIẾN TRIỂN Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN SIÊU VI B MẠN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂY NINH2026-05-11T12:06:59+07:00La Đức HuyHuỳnh Hiếu Tâmhhtam@ctump.edu.vnLê Văn NhoĐặt vấn đề: Đánh giá mức độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn có ý nghĩa quan trọng trong tiên lượng và chỉ định điều trị. Bên cạnh đo độ đàn hồi gan bằng FibroScan, chỉ dấu huyết thanh M2BPGi được đề xuất như một công cụ không xâm lấn phản ánh mức độ xơ gan. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát mối tương quan giữa nồng độ M2BPGi và độ đàn hồi gan, đồng thời đánh giá giá trị chẩn đoán của M2BPGi trong phát hiện xơ gan tiến triển F3–F4 ở bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh trong thời gian tháng 06/2025 đến tháng 01/2026. Phân tích số liệu bằng phần mềm R.4.5.0. Kết quả: Tuổi trung bình 49,00 ± 13,29, nam giới chiếm 63,3%. Về đặc điểm cận lâm sàng, AST >40 U/L chiếm 18/30 (60,0%), ALT >40 U/L chiếm 15/30 (50,0%) và HBV DNA cao chiếm 24/30 (80,0%). Nồng độ M2BPGi trung bình là 1,56 ± 1,39 C.O.I. Độ đàn hồi gan trung bình 8,24 ± 3,44 kPa, với 33,3% bệnh nhân thuộc nhóm F3-F4. Độ đàn hồi gan tương quan mạnh với M2BPGi với r = 0,76 và p < 0,001. Nồng độ M2BPGi cao hơn có ý nghĩa ở nhóm F3–F4 so với F0–F2 với p = 0,002. Phân tích ROC cho thấy M2BPGi có giá trị phân định rất tốt đối với xơ gan tiến triển với AUC = 0,92 (KTC 95% 0,76–1,00). Ngưỡng cắt 1,52 C.O.I cho độ nhạy 80,0% và độ đặc hiệu 95,0%. Kết luận: Ở bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn, M2BPGi tương quan mạnh với độ đàn hồi gan và có giá trị chẩn đoán cao trong phát hiện xơ gan tiến triển.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4669TỶ LỆ NHIỄM RSV, CÚM A, CÚM B VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ NẶNG CỦA VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN CẤP Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG CẦN THƠ NĂM 2025 - 20262026-05-16T08:41:06+07:00Nguyễn Thị Diễm MyNtdiemmy91@gmail.comBùi Quang NghĩaTrương Thành NamÔng Huy ThanhNgũ Phúc Thànhphucthanh1606@gmail.comLâm Thị Kim Ngọclamthikimngocbvsntv@gmail.comĐặt vấn đề: Viêm tiểu phế quản (VTPQ) cấp là bệnh nhiễm trùng hô hấp dưới thường gặp nhất ở trẻ nhỏ. Việc xác định các tác nhân gây bệnh đóng vai trò quan trọng giúp tiên lượng và điều trị hiệu quả. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ nhiễm RSV, cúm A, cúm B và các yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh VTPQ cấp ở trẻ dưới 2 tuổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 247 trẻ từ 1 đến dưới 24 tháng tuổi được chẩn đoán VTPQ cấp tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2025 - 2026. Mức độ nặng VTPQ được đánh giá theo tiêu chuẩn của BPJ 2012. Kết quả: Trẻ nam chiếm 66,8%, nhóm dưới 6 tháng tuổi chiếm 57,5%. Nghiên cứu ghi nhận 82 ca nhiễm RSV (33,2%), 05 ca nhiễm Cúm A (2,0%) và 01 ca nhiễm Cúm B (0,4%). Trong đó, 79,2% trẻ nhiễm RSV (65/82) và 83,3% trẻ nhiễm cúm (5/6) có biểu hiện bệnh ở mức độ nặng. Các triệu chứng điển hình ở nhóm RSV (+) gồm ho (100%), khò khè (100%) và thở nhanh (92,7%). Hình ảnh X-quang phổi ở nhóm RSV (+) ghi nhận 80 trẻ có thâm nhiễm và 73 trẻ có ứ khí. Trong 247 trường hợp VTPQ cấp, có 173 trẻ (70,0%) biểu hiện bệnh mức độ nặng. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy nhiễm RSV (OR = 2,541; p = 0,007) và nhóm tuổi 12 – 24 tháng (OR = 4,016; p = 0,004) là các yếu tố liên quan độc lập đến mức độ nặng của bệnh. Kết luận: Tỷ lệ nhiễm RSV ở trẻ viêm tiểu phế quản cấp là 33,2%. Mức độ nặng của bệnh có liên quan độc lập đến nhiễm RSV và nhóm tuổi 12 - 24 tháng. Kết quả này hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong việc tiên lượng sớm tình trạng bệnh dựa trên tác nhân virus và độ tuổi của trẻ.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4328PHÂN TÍCH DANH MỤC VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG THUỐC THEO ABC/VEN VÀ Mà ATC TẠI MỘT BỆNH VIỆN ĐA KHOA Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 20242026-06-23T16:44:25+07:00Nguyễn Phước Nguyên2153030098@student.ctump.edu.vnPhạm Võ Đại TiếnVõ Hoài TrọngPhạm Thành SuôlLữ Thiện Phúcltphuc@ctump.edu.vnĐặt vấn đề: Phân tích ABC/VEN là phương pháp đã được chuẩn hóa, tuy nhiên danh mục thuốc của cơ sở y tế cần phải thường xuyên cập nhật và phân tích theo các quy định mới, đặc biệt với sự thay đổi của Thông tư 20/2022/TT-BYT về bảo hiểm y tế. Phân tích danh mục và giá trị sử dụng thuốc theo ABC/VEN và mã phân loại thuốc ATC giúp hỗ trợ quản lý danh mục thuốc, ưu tiên mua sắm, tồn trữ và giám sát sử dụng thuốc hợp lý tại bệnh viện. Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích danh mục và giá trị sử dụng thuốc theo ma trận ABC/VEN và mã nhóm thuốc ATC tại một bệnh viện đa khoa ở thành phố Cần Thơ năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng là danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện năm 2024. Phương pháp nghiên cứu là mô tả hồi cứu, phân tích danh mục thuốc theo ma trận ABC/VEN và mã thuốc ATC. Kết quả: Nhóm I (AV, AE, AN, BV, CV) chiếm 71,88% giá trị sử dụng thuốc, nhóm II (BE, BN, CE) chiếm 27,69%, nhóm III (CN) chiếm 0,43%. Phân tích quan hệ ABC/VEN kết hợp mã ATC cho thấy nhóm (J) thuốc kháng khuẩn dùng toàn thân chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm A (27,78%) trong khi nhóm (B) máu và cơ quan tạo máu chiếm tỷ lệ cao nhất trong V (51,6%) thể hiện đặc thù mô hình bệnh tật của bệnh viện. Kết luận: Giá trị sử dụng thuốc chủ yếu tập trung ở nhóm ưu tiên cao (nhóm I). Kết quả phân tích theo ma trận ABC/VEN kết hợp với phân loại ATC cung cấp bằng chứng hữu ích cho việc quản lý danh mục thuốc, lập kế hoạch mua sắm và tăng cường sử dụng thuốc hợp lý trong bệnh viện. Mặc dù nhóm N chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ về số lượng mặt hàng, nhóm này vẫn chiếm 7,21% tổng giá trị sử dụng thuốc, vì vậy cần được tiếp tục theo dõi và giám sát chặt chẽ.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4942ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA LASER DIODE 940 nm VÀ HYALURONIC ACID TRONG PHẪU THUẬT LẬT VẠT ĐIỀU TRỊ VIÊM NHA CHU2026-05-11T13:18:43+07:00Nguyễn Minh Thôngbsminhthongrhm2004@gmail.comNguyễn Hoàng Namnhnamdent@gmail.comĐặt vấn đề: Phẫu thuật lật vạt điều trị viêm nha chu vẫn còn hạn chế như sưng đau, tụt nướu và khó sạch khuẩn. Kết hợp laser diode 940nm và hyaluronic acid (HA) là giải pháp triển vọng khắc phục các nhược điểm này, song chưa có nghiên cứu đánh giá tại Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả của laser diode và HA trong phẫu thuật lật vạt điều trị viêm nha chu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng có nhóm chứng, mù đơn trên 64 bệnh nhân viêm nha chu mạn tính vùng răng cửa hàm trên giai đoạn III hoặc IV tại khoa Nha chu, Bệnh viện Răng Hàm Mặt Thành phố Hồ Chí Minh. Phân ngẫu nhiên thành hai nhóm: nhóm chứng phẫu thuật lật vạt đơn thuần (OFD); nhóm nghiên cứu phẫu thuật vạt kết hợp chiếu laser diode 940nm và bơm HA 0,2% (HA-LA-OFD). Các chỉ số đánh giá bao gồm mức độ đau VAS và chỉ số liền thương WHI trong 7 ngày đầu hậu phẫu; các chỉ số nha chu lâm sàng (PI, GI, mSBI, PPD, CAL, TM, GR) sau 3 tháng điều trị. Kết quả: Răng viêm nha chu giai đoạn III chiếm đa số (64,1%), giai đoạn IV chiếm 35,9%. Nhóm HA-LA-OFD có mức độ đau thấp hơn và chỉ số liền thương tốt hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm OFD tại thời điểm ngày thứ 3 và ngày thứ 7 sau phẫu thuật (p<0,05). Đặc biệt, nhóm HA-LA-OFD có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê so với nhóm OFD về các chỉ số mSBI, TM, PPD và CAL (p<0,05). Không có sự khác biệt về PI, GI và GR giữa hai nhóm. Kết luận: Kết hợp laser diode 940nm và HA trong phẫu thuật lật vạt điều trị viêm nha chu có hiệu quả giảm đau, tăng tốc độ lành thương và tối ưu hóa quá trình phục hồi các cấu trúc nha chu sâu chỉ sau 3 tháng can thiệp.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4500ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN ĐÔNG MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ NĂM 2024-20262026-06-05T15:45:19+07:00Phạm Nhựt Trườngphamnhuttruongydk@gmail.comTrịnh Thị Hồng Củatthcua@ctump.edu.vnNguyễn Thị Chichinguyenkg95@gmail.comTrương Thị Như Hảottnhao.dr@gmail.comDương Trần Thiên Phúcdttphuc@ctump.edu.vnĐường Chấn Hưng2253010332@student.ctump.edu.vnCao Thị Mỹ Thúybscaothimythuy@gmail.comĐặt vấn đề: Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (AECOPD) không chỉ làm nặng thêm tình trạng suy hô hấp mà còn có thể đi kèm rối loạn đông máu liên quan đến đáp ứng viêm toàn thân, qua đó góp phần làm tăng nguy cơ huyết khối. Tuy nhiên, dữ liệu về đặc điểm rối loạn đông máu ở bệnh nhân AECOPD tại Việt Nam còn hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu: mô tả đặc điểm rối loạn đông máu và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân AECOPD. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 165 bệnh nhân nhập viện vì AECOPD. Kết quả: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nam giới, chiếm 97,6%. Tuổi trung bình là 71,68 ± 9,51 tuổi, trong đó 78,2% bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên và 52,7% có tiền sử hút thuốc lá trước nhập viện. Tỷ lệ tăng fibrinogen và tăng D-dimer đều là 58,8%. Rối loạn thời gian prothrombin (PT) và thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (aPTT) ít gặp. Phân tích đơn biến cho thấy tiền sử hút thuốc lá trước nhập viện và CRP ≥ 1 mg/dL có liên quan có ý nghĩa thống kê với tăng fibrinogen và tăng D-dimer. Trong mô hình hồi quy logistic đa biến, tiền sử hút thuốc lá trước nhập viện và CRP ≥ 1 mg/dL là các yếu tố độc lập liên quan đến tăng fibrinogen, với OR lần lượt là 4,594 và 6,928. Đối với tăng D-dimer, tiền sử hút thuốc lá trước nhập viện là yếu tố liên quan độc lập với OR = 3,784. Kết luận: Rối loạn đông máu ở bệnh nhân AECOPD chủ yếu biểu hiện theo xu hướng tăng đông, đặc trưng bởi tăng fibrinogen và D-dimer. Tiền sử hút thuốc lá trước nhập viện là yếu tố liên quan độc lập với cả tăng fibrinogen và tăng D-dimer, trong khi CRP ≥ 1 mg/dL liên quan độc lập với tăng fibrinogen.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4503TÌNH HÌNH TIÊM CHỦNG VẮC XIN CÚM, VẮC XIN PHẾ CẦU VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN Y TẾ CÔNG CỘNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NĂM 2025-20262026-05-21T03:55:59+07:00Trần Thị Hạnh Nguyên2053040115@student.ctump.edu.vnNguyễn Phạm Phúc Hậu2353010020@student.ctump.edu.vnNguyễn Tấn Phát2233010280@student.ctump.edu.vnLê Nguyễn Hạ Duy2233010057@student.ctump.edu.vnNguyễn Minh TrungTrần Văn Đệtvde@ctump.edu.vnĐặt vấn đề: Sinh viên Y tế công cộng là lực lượng nòng cốt trong tương lai, thường xuyên tiếp xúc với cộng đồng và môi trường y tế tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm cao. Tiêm chủng không chỉ bảo vệ cá nhân mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, việc tiếp nhận vắc-xin thường chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố về nhận thức, thái độ và khả năng tiếp cận dịch vụ. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ tiêm ngừa và một số yếu tố liên quan đến việc tiêm chủng vắc-xin cúm, phế cầu ở sinh viên Khoa Y tế công cộng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 400 sinh viên đang theo học tại Khoa Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ trong năm học 2025-2026 thông qua bộ câu hỏi tự điền. Kết quả: Tỷ lệ tiêm chủng vắc-xin cúm là 52,3% và vắc-xin phế cầu là 31,7%. Đa số sinh viên có kiến thức tốt (82,7%) và thái độ tích cực (70%) về tiêm chủng. Lý do phổ biến nhất khiến sinh viên chưa tiêm phòng vắc xin cúm (27,5%) và phế cầu (24,5%) đều là không có thời gian. Kiến thức tốt (p < 0,01), thái độ tích cực (p < 0,05) và việc được nhân viên y tế tư vấn trực tiếp (p < 0,01) đều có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tiêm phòng vắc xin cúm và phế cầu. Kết luận: Tỷ lệ tiêm chủng vắcxin phế cầu trong sinh viên còn thấp so với vắc-xin cúm. Kiến thức, thái độ và sự tư vấn trực tiếp từ nhân viên y tế là những yếu tố then chốt thúc đẩy hành vi tiêm chủng. Cần tăng cường hoạt động tư vấn tại trường và tạo điều kiện thuận lợi về thời gian để nâng cao tỷ lệ tiêm phòng vắc-xin.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4506KẾT QUẢ DẪN LƯU TÚI MẬT XUYÊN GAN QUA DA TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM TÚI MẬT CẤP ĐỘ II, III DO SỎI THEO HƯỚNG DẪN TOKYO 20182026-05-05T04:27:22+07:00Nguyễn Thanh Hùng Emhungemnt@gmail.comNguyễn Văn LâmTrần Phước HồngĐặt vấn đề: Viêm túi mật cấp độ II, III do sỏi theo Hướng dẫn Tokyo 2018 là những thể bệnh nặng, thường gặp ở bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật cao và dễ xảy ra biến chứng. Dẫn lưu túi mật xuyên gan qua da (PTGBD) là phương pháp điều trị ít xâm lấn, được khuyến cáo nhằm kiểm soát tình trạng viêm nhiễm và ổn định người bệnh trong giai đoạn cấp. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả dẫn lưu túi mật xuyên gan qua da trong điều trị viêm túi mật cấp độ II, III do sỏi theo Hướng dẫn Tokyo 2018. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 27 bệnh nhân được chẩn đoán viêm túi mật cấp độ II, III do sỏi theo Hướng dẫn Tokyo 2018 và có chỉ định dẫn lưu túi mật xuyên gan qua da từ 1/2024 đến 1/2026 tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ và Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ. Kết quả: Tuổi trung bình 76,6 ± 10,4; trong đó 96,3% bệnh nhân trên 60 tuổi, nam giới chiếm 66,7%. Viêm túi mật cấp độ II chiếm 66,7% và độ III chiếm 33,3%. Đau hạ sườn phải chiếm 100%, Murphy (+) 96,3%, bạch cầu tăng chiếm 74,1%. Trên siêu âm, sỏi túi mật gặp ở 100% trường hợp, túi mật to 85,2%, thành túi mật dày 66,7% và dịch quanh túi mật 70,4%. Tỷ lệ dẫn lưu túi mật thành công đạt 100%. Sau can thiệp, 66,7% bệnh nhân không ghi nhận biến chứng, các biến chứng gặp với tỷ lệ thấp. Thời gian nằm viện trung bình sau dẫn lưu là 9,3 ± 6 ngày, kết quả điều trị tốt và khá đạt 85,2%. Kết luận: Dẫn lưu túi mật xuyên gan qua da là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả trong kiểm soát viêm túi mật cấp độ II, III do sỏi, đặc biệt ở bệnh nhân lớn tuổi và nguy cơ phẫu thuật cao.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4663MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐA HÌNH rs1799752 CỦA GEN ACE VÀ ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ ERYTHROPOIETIN Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ2026-05-23T02:58:42+07:00Lữ Văn Nhânluvannhan0104@gmail.comNguyễn Như Nghĩannnghia@ctump.edu.vnMai Huỳnh Ngọc Tânmhntan@ctump.edu.vnĐặt vấn đề: Thiếu máu là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối, làm tăng nguy cơ tử vong và giảm chất lượng cuộc sống. Đáp ứng với erythropoietin thay đổi đáng kể giữa các cá thể và có thể chịu ảnh hưởng của đa hình gen ACE, tuy nhiên dữ liệu về đa hình rs1799752 tại Việt Nam hiện còn hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Xác định tỷ lệ và đặc điểm thiếu máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ; 2. Xác định tỷ lệ đa hình rs1799752 của gen ACE và phân tích mối liên quan giữa đa hình này đến đáp ứng điều trị thiếu máu bằng erythropoietin. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc trong 6 tháng, được thực hiện trên 83 bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 5 lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2024-2026. Kiểu gen rs1799752 được xác định bằng kỹ thuật RFLPPCR. Các chỉ số huyết học, sinh hóa và liều erythropoietin được thu thập và theo dõi để đánh giá đáp ứng dựa trên khả năng đạt và duy trì Hb mục tiêu. Kết quả: Tần suất các kiểu gen II, ID, DD lần lượt là: 51,8%, 36,1%, 12,1%. Kiểu gen II là yếu tố độc lập liên quan đến khả năng đạt mục tiêu Hb cao hơn so với nhóm mang alen D (ID + DD), với ý nghĩa thống kê (OR = 3,33, KTC 95%: 1,104 − 10,045; p < 0,05). Kết luận: Đa hình rs1799752 của gen ACE có sự phân bố đa dạng ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ và có mối liên quan với kết quả điều trị thiếu máu bằng erythropoietin.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4671ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN XUẤT HUYẾT NÃO DO TĂNG HUYẾT ÁP2026-05-23T03:18:12+07:00Nguyễn Thị Băng Ngọcnguyenthibangngoc2000@gmail.comLý Ngọc Túlyngoctust@gmail.comTrịnh Thị Hồng Củatthcua@ctump.edu.vnĐặt vấn đề: Xuất huyết não chiếm tỷ lệ khoảng 28,8% trong tổng số ca đột quỵ mới mắc Đánh giá đặc điểm về lâm sàng, cận lâm sàng là các yếu tố giúp dự đoán tiên lượng về kết cục chức năng tại thời điểm xuất viện, từ đó đưa ra kế hoạch điều trị và phục hồi chức năng trên từng bệnh nhân. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ở bệnh nhân xuất huyết não do tăng huyết áp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 49 bệnh nhân ≥ 18 tuổi xuất huyết não do nguyên nhân tăng huyết áp tại khoa Nội Thần Kinh, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2025. Kết quả: Tuổi trung bình 56,53 ± 9,25 và 63,3% là nam giới. Lý do nhập viện chủ yếu là yếu/liệt nửa người (49%) và rối loạn tri giác (34,7%). Thời gian nhập viện trung bình là 8,51 ± 6,1 giờ. Vị trí tổn thương chủ yếu là nhân bèo (46,9%) và đồi thị (38,8%). Thể tích khối máu ≥ 30 mL chiếm đến 30,6%. Số ngày nằm viện trung bình 9,53 ± 5,08 ngày. Tại thời điểm xuất viện ghi nhận tỷ lệ phụ thuộc chức năng (mRS ≥ 3) chiếm 65,3%, tử vong (mRS = 6) chiếm 18,4%, độc lập chức năng (mRS < 3) chiếm 16,3%. Kết luận: Xuất huyết não do tăng huyết áp là bệnh lý có tỷ lệ tử vong và tàn tật cao. Thường gặp ở nam giới tuổi trung niên. Lý do vào viện chủ yếu là yếu/liệt nửa người và rối loạn tri giác với thời gian nhập viện trễ. Tổn thương chủ yếu tại nhân bèo và đồi thị với tỷ lệ thể tích khối máu ≥ 30 mL còn cao. Tại thời điểm xuất viện, tỷ lệ phụ thuộc chức năng chiếm 65,3% và tử vong chiếm 18,4%.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4674KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG MÔ NHA CHU Ở SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ BẰNG ẢNH CHỤP KỸ THUẬT SỐ VÀ MÁY QUÉT TRONG MIỆNG2026-05-23T03:23:52+07:00Trần Huỳnh Trungthtrung@ctump.edu.vnLê Nguyễn Thùy Dươnglntduong@ctump.edu.vnNguyễn Thiên Hươngngthienhuong2002@gmail.comTrần Thái Hữu Tàitaili16032001@gmail.comNguyễn Võ Thùy Dungxdu22@gmail.comHồ Quang Tuấntuanqu0@gmail.comTrần Tuấn Đứctrantuanduc29@gmail.comĐặt vấn đề: Trong bối cảnh yêu cầu đánh giá mô nha chu ngày càng chính xác, việc đối chiếu và so sánh hiệu quả của ảnh chụp kỹ thuật số và máy quét trong miệng đóng vai trò quan trọng, giúp tối ưu hóa dự phòng, chẩn đoán và theo dõi điều trị các bệnh lý nha chu. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định mức độ và vị trí nhiễm sắc nướu ở vùng răng trước hai hàm giữa ảnh chụp kỹ thuật số và máy quét trong miệng của sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2024.So sánh mức độ tụt nướu ở vùng răng trước hai hàm giữa ảnh chụp kỹ thuật số và máy quét trong miệng của sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Sinh viên đến Khu khám và điều trị 2 Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Nghiên cứu cắt ngang có phân tích trên 520 sinh viên (18-30 tuổi) được đánh giá đồng thời bằng ảnh chụp kỹ thuật số và máy quét trong miệng. Kết quả: Mặc dù hai phương pháp có mức độ đồng thuận cao, kiểm định Wilcoxon cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phân loại mức độ tụt nướu Miller tại một số vị trí răng như R13 (p = 0,008) và R33 (p = 0,002). Tuy nhiên, ở đa số các răng còn lại không có sự khác biệt. Hai phương pháp cho thấy sự phù hợp rất cao (Kappa >0,7) trong việc xác định mức độ và vị trí nhiễm sắc nướu theo chỉ số Takashi. Kết luận: Hai phương pháp ảnh chụp kỹ thuật số và máy quét trong miệng cho thấy mức độ đồng thuận cao trong đánh giá tụt nướu vùng răng trước hai hàm và nhiễm sắc nướu theo chỉ số Takashi. Máy quét trong miệng có ưu thế trong ghi nhận dữ liệu ba chiều và hỗ trợ quan sát hình thái, trong khi ảnh chụp kỹ thuật số có giá trị trong ghi nhận màu sắc mô mềm. Việc kết hợp hai phương pháp có thể giúp đánh giá tụt nướu và nhiễm sắc nướu toàn diện hơn.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4675ĐÁNH GIÁ SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ARV VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN HIV/AIDS TẠI TRUNG TÂM Y TẾ KHU VỰC CỦ CHI NĂM 2025-20262026-05-23T03:24:11+07:00Dương Thế Thông24280111893@student.ctump.edu.vnNguyễn Văn LànhĐặt vấn đề: HIV/AIDS từng được coi là “án tử” đối với bệnh nhân. Sự ra đời của thuốc kháng vi-rút (ARV – Antiretroviral) đã chuyển HIV/AIDS thành bệnh lý mạn tính có thể kiểm soát. Việc tuân thủ điều trị ARV đầy đủ và đúng cách là yếu tố quyết định trong việc duy trì tải lượng vi-rút ở mức thấp, giúp giảm tỷ lệ tử vong, nâng cao chất lượng sống và giảm lây nhiễm. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV và tìm hiểu một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân HIV/AIDS tại Trung tâm Y tế Khu vực Củ Chi năm 2025-2026. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 130 bệnh nhân HIV/AIDS được theo dõi điều trị tại phòng khám ngoại trú Trung tâm Y tế Khu vực Củ Chi năm 2025-2026. Kết quả: Đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 44,38 ± 8,73 với nam giới chiếm đa số (67,7%). Có 81 bệnh nhân (62,3%) bệnh nhân điều trị ARV ≥5 năm. Tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV chung là 61,5%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa đến sự tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS bao gồm khoảng cách từ nhà đến phòng khám, sự hỗ trợ của gia đình và nhân viên y tế. Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ ARV còn thấp (61,5%) so với khuyến cáo. Khoảng cách đến phòng khám và hỗ trợ từ gia đình, nhân viên y tế có liên quan đến tuân thủ điều trị ARV với p <0,05. Cần tăng cường hỗ trợ để nâng cao hiệu quả điều trị.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4686TÁC DỤNG PHỤ CỦA HÓA TRỊ Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG LỚN TUỔI TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ2026-05-23T03:36:12+07:00Nguyễn Quỳnh Châunguyenquynhchau27@gmail.comLâm Vĩnh Hảolvhao@ctump.edu.vnPhạm Minh Chiếnpmchien@ctump.edu.vnVõ Trần Minh KhoaTrịnh Lê Phúc TiếnVõ Thanh Thùy DungNgô Vương Bích NgọcĐặt vấn đề: Già hóa dân số làm gia tăng nhanh tỷ lệ ung thư đại trực tràng ở người cao tuổi. Tuy nhiên, việc điều trị nhóm bệnh nhân này còn nhiều thách thức do nguy cơ độc tính hóa trị cao và hạn chế về dữ liệu nghiên cứu chuyên biệt. Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng phụ của hóa trị và các yếu tố liên quan, góp phần tối ưu hóa chiến lược điều trị. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá tác dụng phụ của hóa trị ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng cao tuổi tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 59 bệnh nhân ≥ 65 tuổi được chẩn đoán ung thư đại trực tràng và có chỉ định hóa trị tại Khoa Ung bướu từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 70,98 ± 4,3, nam giới chiếm 64,4% và 84,7% bệnh nhân có BMI < 23kg/m2. ECOG 0-1 chiếm đa số (93,2%), gan là vị trí di căn thường gặp (71,4%). Đa phần bệnh nhân suy yếu theo CGA (71,2%) và dùng phác đồ CapeOx (93,2%). Tăng AST/ALT là tác dụng phụ thường gặp nhất (98,3%). Bệnh nhân có BMI < 23 kg/m2 có tỷ lệ gặp tác dụng phụ tăng AST/ALT nhiều hơn (p = 0,02). Phần lớn tác dụng phụ gặp phải ở mức nhẹ đến trung bình và có thể kiểm soát. Kết luận: Các phác đồ hóa trị nhìn chung dung nạp tốt ở bệnh nhân lớn tuổi. Tuy nhiên, cần theo dõi sát và cá thể hóa điều trị, đặc biệt ở bệnh nhân dùng phác đồ phối hợp và có nhiều bệnh lý nền.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4691NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM V.A Ở TRẺ EM BẰNG COBLATOR TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG CẦN THƠ NĂM 2024-20262026-05-23T03:36:30+07:00Trần Bảo Ngọc23315511879@student.ctump.edu.vnChâu Chiêu HoàTrần Thái ĐiềnĐặt vấn đề: Điều trị viêm V.A mạn tính phì đại ở trẻ em là vấn đề thường gặp, cần được can thiệp kịp thời nhằm phòng ngừa biến chứng và bảo đảm sự phát triển của trẻ. Phương pháp nạo V.A bằng Coblator, sử dụng năng lượng sóng cao tần ở nhiệt độ thấp để cắt và đông mô mềm, giúp kiểm soát tốt diện cắt, hạn chế tối đa tổn thương mô lành, giảm mất máu và giảm đau sau mổ. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhi viêm V.A mạn tính phì đại có chỉ định phẫu thuật và đánh giá kết quả điều trị nạo V.A ở bệnh nhi bằng Coblator qua nội soi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng trên 68 bệnh nhi viêm V.A mạn tính phì đại đến khám và được chỉ định phẫu thuật nạo V.A bằng Coblator qua nội soi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ từ 04/2024 đến 06/2025. Kết quả: Không có sự khác biệt giữa nam (48,53%) và nữ (51,47%). Lý do vào viện chủ yếu là chảy mũi chiếm 85,29%. V.A phì đại độ III (66,18%) chiếm tỷ lệ cao nhất, tình trạng ứ dịch hòm nhĩ (29,41%). Tỷ lệ phẫu thuật nạo V.A đơn thuần ghi nhận 73,53%, và 26,47% số bệnh nhi thực hiện đồng thời phẫu thuật tai mũi họng khác. Ghi nhận 1 trường hợp chảy máu sau mổ 1 tuần. Không đau sau mổ ngày thứ nhất (44,12%), ngày thứ 2 (70,59%), 100% hết đau sau 7 ngày. Kết quả hậu phẫu tốt đạt 97,06%. Kết luận: Phẫu thuật nạo V.A bằng Coblator qua nội soi cho thấy tính an toàn và hiệu quả cao: thời gian phẫu thuật ngắn, giảm mất máu trong mổ, giảm đau sau mổ và cho kết quả điều trị tốt sau phẫu thuật.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4707NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỔ LẤY THAI Ở CÁC SẢN PHỤ NHÓM III THEO PHÂN LOẠI ROBSON2026-05-23T04:15:02+07:00Trần Thị Anh Thơbsanhthobvdn2@gmail.comTrần Khánh NgaVũ Đăng KhoaĐặt vấn đề: Hệ thống phân loại Robson hỗ trợ kiểm soát và tối ưu hóa thực hành sản khoa. Nhóm III trong hệ thống phân loại Robson là nhóm có tiên lượng tốt, nguy cơ biến chứng thấp và thường được khuyến khích sinh ngả âm đạo. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai trong nhóm III đang gia tăng. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm chung, một số yếu tố liên quan và so sánh kết cục thai kỳ trong nhóm III theo phân loại Robson. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh trên 357 thai phụ nhóm III theo phân loại Robson tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai trong thời gian từ tháng 5/2025 đến tháng 2/2026. Kết quả: Tuổi trung bình của thai phụ là 31,6 ± 5,2, thai phụ < 35 tuổi chiếm ưu thế (71,4%). Tỷ lệ mổ lấy thai chiếm 15,7%. Tỷ lệ thai phụ ≥ 35 tuổi ở nhóm mổ lấy thai (46,4%) cao hơn so với nhóm sinh thường (25,2%) (p < 0,001). Nhóm mổ lấy thai có tỷ lệ tuổi thai ≥ 42 tuần, cân nặng trẻ ≥ 3500 g và chăm sóc tại NICU cao hơn so với nhóm sinh thường (p<0,05).Điểm Apgar ở nhóm mổ lấy thai thấp hơn so với nhóm sinh thường (p < 0,001). Thời gian nằm viện ở nhóm mổ lấy thai dài hơn so với nhóm sinh thường (4,9 ± 1,3 so với 3,5 ± 1,4; p < 0,001). Kết luận: Tuổi mẹ ≥ 35, tuổi thai ≥ 42 tuần và cân nặng sơ sinh ≥ 3500 g có mối liên quan với mổ lấy thai trong nhóm III Robson. Tăng tỷ lệ nhập NICU, giảm chỉ số Apgar và kéo dài thời gian nằm viện có liên quan với phương thức chấm dứt thai kỳ và tình trạng thai trước sinh.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/5201ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN CÒN RĂNG HOẶC CHÂN RĂNG VÙNG RĂNG TRƯỚC HÀM TRÊN CÓ CHỈ ĐỊNH NHỔ VÀ CẤY GHÉP IMPLANT TỨC THÌ KẾT HỢP GHÉP MÔ LIÊN KẾT TỰ THÂN2026-06-16T04:11:33+07:00Phạm Vũ Thuậtthuatphamdr09@gmail.comNguyễn Minh Triếtbs.tmtriet@gmail.comThs.BSCKII Nguyễn Hoàng Namnhnam@ctump.edu.vnĐặt vấn đề: Cấy ghép implant tức thì vùng răng trước hàm trên là lựa chọn điều trị có ý nghĩa thẩm mỹ cao, nhưng kết quả phụ thuộc nhiều vào tình trạng xương ổ răng và mô mềm quanh implant. Việc khảo sát các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trước phẫu thuật giúp lựa chọn ca phù hợp và lập kế hoạch ghép mô liên kết tự thân hiệu quả. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân còn răng hoặc chân răng vùng răng trước hàm trên có chỉ định nhổ và cấy ghép implant tức thì kết hợp ghép mô liên kết tự thân. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 46 bệnh nhân có răng hoặc chân răng vùng răng trước hàm trên có chỉ định nhổ và cấy ghép implant tức thì kết hợp ghép mô liên kết tự thân tại Bệnh viện MắtRăng Hàm Mặt Cần Thơ. Kết quả: Vị trí răng điều trị phân bố tương đối đồng đều giữa phân hàm I và II, lần lượt là 52,2% và 47,8%. Mật độ xương chủ yếu thuộc nhóm D2–D3, chiếm 80,5%. Nguyên nhân nhổ răng thường gặp nhất là răng sâu mất chất với 52,2%, tiếp theo là nội nha thất bại với 26,1%. Chiều cao nướu sừng hóa ≥ 4 mm chiếm 63,0%. Độ dày mô mềm trung bình trước phẫu thuật là 1,57 ± 0,48 mm. Kết luận: Bệnh nhân có chỉ định cấy ghép implant tức thì vùng răng trước hàm trên trong nghiên cứu chủ yếu có mật độ xương D2–D3. Nguyên nhân nhổ răng thường gặp nhất là răng sâu mất chất và phần lớn trường hợp có chiều cao nướu sừng hóa ≥ 4 mm.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4859KẾT QUẢ LÂM SÀNG PHỤC HÌNH RĂNG TRƯỚC HÀM TRÊN BẰNG MÃO SỨ ZIRCONIA ĐA LỚP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAD/CAM2026-06-19T08:31:40+07:00Bùi Thanh TriềuLê Nguyên LâmTô Tuấn DânLý Gia HuyTrần Hà Phương Thảothpthao@ctump.edu.vnĐặt vấn đề: Phục hình răng trước hàm trên đòi hỏi cao về thẩm mỹ và chức năng. Mão sứ zirconia đa lớp ứng dụng công nghệ CAD/CAM cho phép cải thiện độ chính xác, tính thẩm mỹ và độ bền sinh học. Tuy nhiên, cần có dữ liệu lâm sàng theo dõi để đánh giá hiệu quả điều trị. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả phục hình vùng răng trước hàm trên bằng mão sứ zirconia đa lớp với công nghệ CAD/CAM. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 22 bệnh nhân với 35 răng được phục hình cố định từ tháng 06/2025 đến tháng 01/2026 tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Các tiêu chí đánh giá gồm thẩm mỹ, chức năng, độ bền, tình trạng tủy và mô quanh chóp, nha chu và mức độ hài lòng của bệnh nhân. Kết quả: Tuổi trung bình bệnh nhân là 35,95 ± 5,75 tuổi, nữ chiếm 59,0%. Trong 35 răng cửa hàm trên được gắn mão, răng cửa giữa chiếm 77,1%, nguyên nhân phục hình chủ yếu là sâu răng lớn 37,1% và dị dạng 28,6%, răng tủy sống chiếm 77,1%. Ngay sau gắn mão, thẩm mỹ đạt mức tốt 94,3%, chức năng 97,1%, tủy và mô quanh chóp 88,9%, sự hài lòng 88,6%. Tại thời điểm 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng, chức năng, sâu răng và nha chu đều đạt mức tốt 100%. Thẩm mỹ mức tốt đạt 94,3% tại 1 và 3 tháng, giảm nhẹ còn 91,4% tại 6 tháng (p = 0,568), độ bền đạt 100% tại 1 và 3 tháng, còn 97,1% tại 6 tháng (p = 0,672). Ở nhóm răng tủy sống, tủy và mô quanh chóp mức tốt tăng từ 92,6% tại 1 tháng lên 100% tại 3 và 6 tháng (p = 0,435). Mức độ hài lòng duy trì 97,1% tại cả ba thời điểm theo dõi. Kết luận: Phục hình răng trước hàm trên bằng mão sứ zirconia đa lớp CAD/CAM cho kết quả thẩm mỹ và chức năng cao, độ ổn định tốt trong 6 tháng theo dõi, mức độ hài lòng của bệnh nhân cao và ít biến chứng sinh học.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/5053PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG SAU THAY KHỚP HÁNG Ở BỆNH NHÂN GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI2026-06-08T03:57:38+07:00Nguyễn Tâm Từnguyentamtudr@gmail.comNguyễn Minh NghiêmHuỳnh Thống EmĐặt vấn đề: Gãy cổ xương đùi là một chấn thương thường gặp ở người cao tuổi, có nguy cơ gây suy giảm chức năng vận động nghiêm trọng và làm giảm chất lượng cuộc sống. Phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo hiện nay là phương pháp điều trị hiệu quả, giúp cải thiện chức năng vận động và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá kết quả phục hồi chức năng và chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật thay khớp háng ở bệnh nhân gãy cổ xương đùi tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2025–2026. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca tiến cứu, không nhóm chứng trên 50 bệnh nhân gãy cổ xương đùi được điều trị bằng thay khớp háng nhân tạo. Đánh giá kết quả thông qua thang điểm Harris Hip Score (HHS), EQ-5D và EQ-VAS. Kết quả: Tuổi trung bình 72,4 ± 8,6; nữ chiếm ưu thế (tỷ số nữ/nam khoảng 2,85). Đa số bệnh nhân thuộc loại gãy AO/OTA 31-B3 (98%). Thay khớp háng bán phần không xi măng chiếm 76%. Điểm HHS trung bình sau mổ đạt 86,8 ± 8,5; tỷ lệ kết quả tốt và rất tốt chiếm 88%. Sau mổ, chỉ số đau/khó chịu cải thiện rõ với 86% bệnh nhân ở mức 1; tuy nhiên điểm EQ-VAS tại thời điểm 3 tháng sau mổ (84,56 ± 6,65) vẫn thấp hơn mức trước chấn thương (93,37 ± 4,43). Kết luận: Phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo trong điều trị gãy cổ xương đùi mang lại hiệu quả cao trong phục hồi chức năng và cải thiện chất lượng cuộc sống.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4696KẾT QUẢ KHỞI PHÁT CHUYỂN DẠ BẰNG ỐNG THÔNG FOLEY VÀ DINOPROSTONE Ở THAI PHỤ THIỂU ỐI2026-05-12T00:52:37+07:00Dương Mỹ Linhdmlinh@ctump.edu.vnĐồng Phạm Hải24210511970@student.ctump.edu.vnĐỗ Thị Minh NguyệtBùi Quang Nghĩabqnghia@ctump.edu.vnĐặt vấn đề: Thiểu ối là một trong những trường hợp gây ra những kết cục bất lợi cho thai nhi, khởi phát chuyển dạ để chấm dứt thai kỳ giúp giảm tỷ lệ mổ lấy thai ở thai phụ thiểu ối. Mục tiêu nghiên cứu: So sánh kết quả khởi phát chuyển dạ bằng ống thông Foley và dinoprostone ở thai phụ thiểu ối. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 114 thai phụ tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai năm 2025-2026. Thai phụ được chẩn đoán thiểu ối, chấm dứt thai kỳ bằng đặt ống thông foley và đặt Dinoprostone, đánh giá kết quả khởi phát chuyển dạ thành công dựa vào độ mở cổ tử cung, chỉ số Bishop. Kết quả: Tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công của nhóm đặt foley là 84,2%; nhóm đặt dinoprostone là 89,5%; sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Tỷ lệ thành công khác nhau ở các thai phụ có chỉ số ối khác nhau nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Độ mở cổ tử cung và chỉ số Bishop sau khởi phát chuyển dạ giữa 2 phương pháp không khác biệt có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.Nhưng nhóm dinoprostone có Bishop trung bình sau khởi phát cao hơn và thời gian khởi phát thành công trung bình ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đặt sonde foley, với p <0,05. Kết luận: Khởi phát chuyển dạ ở thai phụ thiểu ối có tỷ lệ thành công cao và dinoprostone là lựa chọn đầu tiên cho việc chấm dứt thai kỳ ở thai phụ thiểu ối.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4810TỔNG QUAN VỀ HÌNH THÁI THỰC VẬT, THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ TÁC DỤNG DƯỢC LÝ CỦA CHI CISSUS TẠI VIỆT NAM2026-05-28T06:58:43+07:00Phan Nguyễn Thiên PhúcMPharm Trần Thạch Thảothachthao@lhu.edu.vnĐặt vấn đề: Chi Cissus thuộc họ Nho (Vitaceae) bao gồm khoảng 350 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền. Một số loài như Cissus quadrangularis, Cissus repens và Cissus verticillata đã được nghiên cứu rộng rãi ở nhiều nước và sử dụng trong các chế phẩm. Tại Việt Nam đã xác định được 15 loài thuộc chi Cissus, trong đó Chìa vôi (Cissus modeccoides) được trồng phổ biến và sử dụng trong các phương thuốc cổ truyền. Mục tiêu nghiên cứu: Bài tổng quan tóm tắt và phân tích các thông tin về phân loại thực vật, hóa thực vật và tác dụng dược lý của các loài Cissus tại Việt Nam. Kết quả: Các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy trong chi Cissus có nhiều nhóm hợp chất khác nhau, bao gồm flavonoid, triterpenoid, stilben, acid phenolic, saponin, phytosterol và alkaloid. Về tác dụng dược lý, các loài trong chi thể hiện các hoạt tính sinh học như tác dụng giảm đau, hạ sốt, kháng viêm, kháng khuẩn, kháng nấm, chống oxy hóa, hạ đường huyết và gây độc tế bào ung thư. Kết luận: Tổng hợp các thông tin liên quan đến chi Cissus cho thấy đây là chi thực vật có giá trị quan trọng trong nghiên cứu về thực vật học, hóa thực vật và dược lý học.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/4676THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KÊ ĐƠN THUỐC CỔ TRUYỀN, THUỐC DƯỢC LIỆU CHƯA ĐÚNG QUY ĐỊNH TẠI MỘT BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG2026-06-21T03:19:17+07:00Phạm Thị Thu Lods.phamthulo81@gmail.comPhạm Thị Tố Liênpttlien@ctump.edu.vnĐặt vấn đề: Kê đơn thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu tại bệnh viện Y học cổ truyền cần tuân thủ các quy định của Bộ Y tế nhằm bảo đảm an toàn và hiệu quả điều trị. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát thực trạng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu chưa đúng quy định tại Bệnh viện Y học cổ truyền. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 330 đơn thuốc có chứa thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu tại Bệnh viện Y học cổ truyền. Kết quả: Tỷ lệ đơn thuốc kê chưa đúng quy định là 48,5%. Sai thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất (40,9%), tiếp theo là phối hợp thuốc không hợp lý (33,5%) và sai liều/cách dùng (25,6%). Tiêu chí kê thuốc phù hợp với chẩn đoán, không sai đối tượng bệnh đạt 74,8%. Nhóm kê đơn chưa đúng quy định có mức hiểu biết thông tư, tự đánh giá tuân thủ và tham gia tập huấn gần đây thấp hơn nhóm kê đúng quy định (p<0,05), đồng thời có số lượng thuốc trung bình mỗi đơn cao hơn (3,04 ± 0,90 so với 2,45 ± 0,88; p<0,001). Kết luận: Kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu chưa đúng quy định còn phổ biến, chủ yếu liên quan đến tính phù hợp giữa thuốc và chẩn đoán, lựa chọn thuốc, phối hợp thuốc và liều lượng/cách dùng.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/5174THỰC TRẠNG GIÁM SÁT SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 20242026-06-30T16:28:30+07:00Lương Thiện Tíchdrtich2022@gmail.comLê Quang VinhHuỳnh Minh ChínĐặt vấn đề: Bệnh sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính do nhiễm vi rút Dengue, vi rút lan truyền thông qua véc tơ trung gian là muỗi Aedes sp. tại Bình Dương, đến tuần 31 năm 2024 toàn tỉnh ghi nhận 1.286 ca sốt xuất huyết Dengue, cao thứ 4 trong 20 tỉnh phía Nam, 01 ca tử vong. Mặc dù các hoạt động giám sát, phòng chống dịch sốt xuất huyết Dengue đã được triển khai đầy đủ, nhưng hiệu quả vẫn chưa rõ rệt. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng giám sát sốt xuất huyết Dengue tại thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang định lượng 512 ca bệnh được thống kê từ phần mềm theo Thông tư 54 của Bộ Y tế có thời gian điều trị từ 01/2024 đến 06/2024. Kết quả: Trong số báo cáo 512 ca bệnh, có 84 ca trùng và 79 ca báo cáo không đúng hạn. Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dữ liệu giám sát bao gồm: thời gian tập huấn triển khai báo cáo ca bệnh lên phần mềm Quản lý giám sát bệnh truyền nhiễm tại các bệnh viện đã lâu (năm 2017 và 2018), công tác giám sát thiếu nội kiểm và các yếu tố liên quan đến nhân sự thực hiện công tác báo cáo. Kết luận: Tỷ lệ báo cáo trùng ca và không đúng hạn còn cao, tỷ lệ lần lượt là (16,4%) và (18,5%). Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dữ liệu giám sát bao gồm: Thời gian tập huấn triển khai báo cáo ca bệnh lên phần mềm Quản lý giám sát bệnh truyền nhiễm tại các bệnh viện đã lâu (năm 2017 và 2018), công tác giám sát thiếu nội kiểm và các yếu tố liên quan đến nhân sự thực hiện công tác báo cáo.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/5205THỰC TRẠNG ĐỤC THỂ THỦY TINH VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TIẾP CẬN PHẪU THUẬT Ở NGƯỜI TỪ 50 TUỔI TRỞ LÊN TẠI BÀ RỊA VŨNG TÀU2026-06-13T05:17:22+07:00Dương Thanhduongthanhbvmiendong@gmail.comTrần Minh NgọcĐặt vấn đề: Đục thể thủy tinh là nguyên nhân gây mù có thể điều trị phẫu thuật hàng đầu, song tỷ lệ tiếp cận điều trị trong cộng đồng còn thấp. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm xác định thực trạng đục thể thủy tinh và phân tích các yếu tố liên quan đến tiếp cận phẫu thuật ở người từ 50 tuổi trở lên tại Bà Rịa Vũng Tàu năm 2025-2026. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 1.407 người ≥50 tuổi tại Bà Rịa Vũng Tàu tháng 2/2025 đến tháng 2/2026, chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng hai giai đoạn theo cụm. Kết quả: Tỷ lệ đục thể thủy tinh là 22,6% (n=318), tăng nhanh theo tuổi (50-59: 6,1%; 60-69: 20,1%; ≥70: 44,8%; p<0,05) và theo điều kiện kinh tế thấp hơn (không đủ ăn: 34,0%; p<0,05). Chỉ 19,5% bệnh nhân đục thể thủy tinh đã được phẫu thuật; độ bao phủ phẫu thuật đạt 33,9%. Trong 256 bệnh nhân chưa phẫu thuật, 52,7% đã mờ mắt trên 2 năm và 47,2% ở mức mù lòa. Bảy yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê (p<0,05): có Bảo hiểm y tế, biết địa phương có dịch vụ khám mắt, nghe thông tin qua báo/đài, được nhân viên y tế tuyên truyền về đục thể thủy tinh, được nhân viên y tế tuyên truyền về chương trình Phòng chống mù lòa, biết tỉnh có dịch vụ phẫu thuật và giá mổ phù hợp kinh tế. Ba trở ngại hàng đầu: không biết mình bị đục thể thủy tinh (36,2%), chờ thẻ bảo hiểm y tế (21,4%) và thiếu kinh phí (14,2%). Kết luận: Tỷ lệ đục thể thủy tinh cao trong cộng đồng nhưng độ bao phủ phẫu thuật còn thấp. Tiếp cận thông tin, bảo hiểm y tế và giảm chi phí là các yếu tố then chốt cần can thiệp.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/5196PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TỤT NƯỚU MILLER II Ở BỆNH NHÂN TỤT NƯỚU VÙNG RĂNG CỐI NHỎ HÀM TRÊN2026-06-20T00:15:07+07:00Võ Minh Tânvotanrhm@gmail.comBS.CKII Tô Tuấn Dântotuandan2018@gmail.comThs.BSCKII Nguyễn Phúc Vinhnpvinh@ctump.edu.vnĐặt vấn đề: Phân loại Miller giúp phân tầng tụt nướu và định hướng điều trị; Miller II cần được phân tích riêng do bờ tụt nướu đã tới hoặc vượt qua đường nối nướu - niêm mạc trong khi mô kẽ răng còn bảo tồn. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ Miller II và phân tích một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân tụt nướu vùng răng cối nhỏ hàm trên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang phân tích trên dữ liệu trước can thiệp của 78 bệnh nhân tụt nướu Miller I-II; biến chính là Miller II. Kết quả: Miller II chiếm 35,9%. Tuổi, giới, PlI và GI chưa liên quan có ý nghĩa thống kê. Tụt nướu nhìn thấy ≥4 mm, nướu sừng hóa <3 mm và nướu dính <2 mm liên quan với Miller II; trong hồi quy logistic thăm dò, tụt nướu nhìn thấy ≥4 mm và nướu sừng hóa <3 mm còn ý nghĩa. Phân tích theo vị trí cho thấy không khác biệt giữa bên phải và bên trái; răng cối nhỏ thứ nhất có tụt nướu nhìn thấy cao hơn răng cối nhỏ thứ hai nhưng phân độ Miller không khác biệt. Kết luận: Miller II gặp ở hơn một phần ba bệnh nhân. Cần đánh giá đầy đủ mô mềm tại chỗ và vị trí răng trước can thiệp để hỗ trợ lựa chọn điều trị.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/5191NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI HÌNH THÁI, CHỨC NĂNG THẤT TRÁI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI LỌC MÁU CHU KỲ KẾT HỢP HDF ONLINE2026-06-19T01:08:43+07:00Trịnh Du Thếtrinhduthe@gmail.comNguyễn Như Nghĩannnghia@ctump.edu.vnNguyễn Hoàng Bảo NgọcKiều Biên SoạnKiều Thị Vân HàĐặt vấn đề: Bệnh thận mạn giai đoạn cuối thường gây tái cấu trúc và rối loạn chức năng thất trái sớm, ngay cả khi phân suất tống máu thất trái còn bảo tồn. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tỷ lệ rối loạn hình thái, chức năng thất trái; 2. Đánh giá sự biến đổi hình thái, chức năng thất trái sau can thiệp; 3. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến phì đại thất trái sau can thiệp ở người bệnh thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ kết hợp HDF online. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có can thiệp theo dõi dọc trên 100 người bệnh lọc máu chu kỳ kết hợp HDF online (tần suất 1-3 lần/tháng) tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận, thời gian theo dõi 6 tháng. Kết quả: Bất thường hình thái 89%, trong đó phì đại đồng tâm 57%; chỉ số khối cơ thất trái (LVMI) 147,07 ± 49,92 g/m².LVEF theo Simpson 61,18 ± 11,69%, 81% có LVEF > 50%; Sm vách 6,78 ± 2,28 cm/s, bên 7,75 ± 2,31 cm/s. E/A 0,92 ± 0,41; Em vách 6,51 ± 2,29 cm/s, bên 8,21 ± 3,09 cm/s; E/Em 11,46 ± 4,67; chỉ số Tei 0,74 ± 0,20. Sau 6 tháng lọc máu: bề dày thành sau thất trái giảm 0,82 ± 2,48 mm và RWT giảm 0,0471 ± 0,1485 (p < 0,05); E/A cải thiện; thời gian giãn đồng thể tích (IVRT) tăng 31,20 ± 40,06 ms. LVMI ban đầu và huyết áp tâm thu trước lọc là hai yếu tố liên quan độc lập với LVMI sau can thiệp. Kết luận: Người bệnh thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ có tỷ lệ phì đại thất trái cao. Huyết áp tâm thu trước lọc là yếu tố liên quan độc lập với phì đại thất trái.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơhttps://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/5147ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỬ DỤNG VẠT ĐẨY VÀ VẠT CHUYỂN TRONG ĐIỀU TRỊ KHUYẾT HỔNG VÙNG MẶT TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NĂM 2024-20252026-07-01T06:40:45+07:00Phạm Văn ĐôngNguyễn Hữu Giàunhgiau@ctump.edu.vnNgô Trí Minh PhươngVõ Thị HậuĐặt vấn đề: Khuyết hổng phần mềm vùng mặt là thách thức trong phẫu thuật tạo hình do yêu cầu phục hồi đồng thời chức năng và thẩm mỹ. Vạt đẩy và vạt chuyển là các kỹ thuật tái tạo được sử dụng phổ biến hiện nay. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả sử dụng vạt đẩy và vạt chuyển trong điều trị khuyết hổng vùng mặt trên bệnh nhân được điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh trên 45 bệnh nhân đến khám và điều trị phẫu thuật chuyển vạt tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Kết quả: Bệnh nhân có tuổi trung bình 56,42 ± 15,21 tuổi, nữ giới chiếm 51,11%, khuyết hổng kích thước 1-3 cm chiếm 44,44% là cao nhất; vị trí vùng má, gò má và dưới hốc mắt chiếm tỷ lệ cao lần lượt là 26,67%, 22,22%, 20,00%; tỷ lệ vạt có sức sống và chức năng che phủ tốt đạt 88,89% sau 1 tuần và 100% sau 1 tháng; 100% vạt có màu sắc tương đồng với vùng da xung quanh; biến chứng sau phẫu thuật chủ yếu là sưng nề (44,44%) và chảy máu, tụ máu vết mổ (24,44%), nhiễm trùng chiếm 4,44%; sẹo đẹp tăng từ 42,22% lên 77,78% sau 3 tháng, mức độ rất hài lòng của bệnh nhân tăng từ 40,00% sau 1 tháng lên 77,78% sau 3 tháng. Kết luận: Vạt đẩy và vạt chuyển là phương pháp hiệu quả và an toàn trong điều trị khuyết hổng phần mềm vùng mặt, với tỷ lệ sống vạt cao, chức năng che phủ tốt và kết quả thẩm mỹ khả quan. Kết quả liền sẹo và mức độ hài lòng của bệnh nhân được cải thiện đáng kể trong quá trình theo dõi sau phẫu thuật.2026-06-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Cần Thơ